BÃO NGẬP VÀ SỤT LÚN: BẾN AN TOÀN CHO ĐỒNG BẰNG SÔNG MÊ KHÔNG CÒN ĐƠN GIẢN?
NGƯỜI DÂN CẦN THƠ ĐANG CHỨNG KIẾN SỰ BIẾN ĐỔI CHỚP MẮT CỦA MÔI TRƯỜNG, TỪ VIỆC NGẬP NƯỚC DO TRIỀU CƯỜNG ĐẾN NGUY CƠ SỤT Lún ĐẤT NGÀY CÀNG NẶNG NỀ. Th.S Kỷ Quang Vinh, nguyên Chánh văn phòng Công tác Biến đổi khí hậu TP.Cần Thơ, kể lại rằng hơn 25 năm trước, nhà ông bên sông Khai Luông vẫn cao hơn mặt hẻm đáng kể, ngay cả sau lần nâng nền thứ hai cách đây bốn năm. Tuy nhiên, chỉ trong vòng vài năm gần đây, mọi thứ đã thay đổi một cách chóng mặt.
Chỉ riêng từ năm 2005 đến 2017, các mốc đo đạc cho thấy vùng đất quanh khu vực cồn Khương đã sụt lún tới hơn 50 centimet. Năm 2011, triều cường đạt đỉnh 2,15 mét, nền nhà của ông Vinh vẫn cao hơn nước 10-15 cm. Đến năm 2017, dù đỉnh triều chỉ còn 2,13 mét, nhưng nước đã tràn vào nhà ông một cách tràn lan, khiến ông tin rằng nguyên nhân chính không phải là mực nước cao mà là đất lún.
Dữ liệu của Cục Đo đạc và Bản đồ còn chỉ ra rằng trong suốt 12 năm, khu vực này đã sụt lún trung bình 4-5 cm mỗi năm. Thực tế này cho thấy ngập lụt chỉ là biểu hiện bề nổi; thứ nguy hiểm và đáng lo ngại hơn chính là sự suy giảm của đất nền do sụt lún ngày càng trầm trọng.
SỐNG CÙNG RỦI RO SỤT LÚN VÀ NGẬP NƯỚC
Sụt lún đất không còn là điều xa lạ tại ĐBSCL. Dự án Rise and Fall của Đại học Utrecht đã dự báo trung bình khu vực này sụt lún khoảng 5 cm mỗi năm, cao gấp nhiều lần so với tốc độ nước biển dâng (khoảng 3 mm/năm). Bộ Tài nguyên và Môi trường đã cảnh báo trong năm 2020 rằng các đô thị lớn như Cần Thơ, Cà Mau, Bạc Liêu đang hình thành các “phễu lún” với tốc độ trung bình 20-50 cm mỗi thập kỷ, đe dọa toàn diện môi trường và sinh kế người dân.
Nguyên nhân chính của sụt lún được xác định là do cộng hưởng giữa yếu tố tự nhiên như nén chặt trầm tích và các hoạt động của con người. Trong đó, khai thác nước ngầm ồ ạt là thủ phạm hàng đầu, với hàng triệu giếng khoan phục vụ cho sinh hoạt, nông nghiệp và công nghiệp. Thạc sĩ Nguyễn Hữu Thiện nhận định rằng việc khai thác nước ngầm khiến đồng bằng như “quả dưa hấu khổng lồ”, nếu cứ tiếp tục hút càng nhiều thì vùng đất càng mau chóng xẹp xuống không thể khắc phục.
Tác động này còn khiến dự báo về tương lai thêm phần đáng sợ. Tháng 11/2023, các chuyên gia dự đoán nếu tốc độ khai thác nước ngầm không được kiểm soát, đến năm 2050, mặt đất khu vực này có thể lún thêm từ 35 đến 140 cm. Khi đó, hơn một nửa diện tích đồng bằng sẽ chìm trong nước, nhất là nếu mực nước biển dâng 1 mét.
HỆ THỐNG ĐÊ BAO – GIẢI PHÁP NỖI BẬT CŨNG GÂY RA HỆ LỤY
Trong khi sụt lún âm thầm tiếp diễn, các biện pháp chống ngập như xây dựng hệ thống đê bao đã góp phần cực lớn vào việc thay đổi cảnh quan và sinh kế cộng đồng. Thế nhưng, theo các chuyên gia, đó cũng là nguyên nhân dẫn đến mất cân bằng thủy sinh tự nhiên. Thạc sĩ Nguyễn Hữu Thiện mô tả rằng bắt đầu từ 30 năm trước, các đê bao khép kín đã khiến Đồng Tháp Mười và Tứ giác Long Xuyên mất đi phần lớn khả năng trữ nước, làm thay đổi nhịp sinh thái tự nhiên, đẩy dòng chảy vào các hạ lưu gây ngập lụt kéo dài.
Ngoài ra, việc xây dựng hàng loạt cống đê và hệ thống dẫn nước đã làm gián đoạn việc lan tỏa của nước lũ tự nhiên. Khi dòng chảy bị giới hạn và không thể phân tán đều, nước lũ đổ về các đô thị trung tâm ngày càng bị dồn nén, kết hợp cùng triều cường từ biển, làm cho khu vực giữa đồng bằng thường xuyên ngập lụt, gây ảnh hưởng lớn đến đời sống và sản xuất nông nghiệp.
Chuyên gia Nguyễn Hữu Thiện nhấn mạnh cần phải có một cách tiếp cận “thuận thiên”. Điều này có nghĩa là phải giảm và kiểm soát khai thác nước ngầm, mở rộng không gian trữ nước tự nhiên, thay đổi mô hình canh tác và không đắp đê khép kín. Các chính sách phải dựa trên nguyên tắc tôn trọng dòng chảy của tự nhiên, coi nước mặn, nước lợ, lũ và triều cường như nguồn lực, chứ không phải là kẻ thù cần loại trừ.
GIẢI PHÁP THIẾT YẾU: ĐIỀU PHỐI VÀ PHÙ HỢP VỚI TỰ NHIÊN
Theo ý kiến của TS Tô Văn Trường, một trong những chuyên gia hàng đầu về thủy lợi, cần thành lập một “bộ chỉ huy” duy nhất có đủ thẩm quyền để điều phối công tác chống ngập toàn khu vực, vượt qua các ràng buộc hành chính cản trở. Quy hoạch cần dựa trên cơ sở dữ liệu số hóa, bản đồ rủi ro ngập lụt, đồng thời kiểm soát chặt chẽ các hành vi lấn chiếm, san lấp kênh rạch để bảo vệ hệ sinh thái thiên nhiên.
Hình thức giải pháp xanh như phục hồi các hệ sinh thái đất ngập nước, xây dựng công viên sinh thái, làm vật liệu thấm nước, thay vì đắp đê bê tông và dựng cống cứng nhắc, chính là cách để vừa giảm ngập, vừa giữ gìn sự đa dạng sinh học của vùng Đồng bằng sông Cửu Long.
Chung quy, mọi biện pháp chỉ có thể phát huy hiệu quả nếu đi cùng tinh thần “thuận thiên”. Đó là sự hiểu biết, tôn trọng dòng chảy tự nhiên của nước, thay vì đối đầu và cố gắng kiểm soát hoàn toàn bằng các công trình cứng nhắc. Hướng đi này hứa hẹn sẽ mang lại một đồng bằng phát triển bền vững, cân bằng giữa phát triển kinh tế và bảo vệ môi trường.