NGƯỜI DÙNG GẶP VẤN ĐỀ VỚI SỔ TIẾT KIỆM TRỊ GIÁ HÀNG TRĂM TRIỆU ĐỒNG: AI CHỊU TRÁCH NHIỆM KHI GIAO DỊCH KHÔNG ĐƯỢC XÁC MINH?
Năm 1997, anh Phùng, sinh sống tại Bắc Kinh, Trung Quốc, đã gửi 450.000 NDT vào tài khoản tiết kiệm không kỳ hạn của một ngân hàng địa phương. Trong cùng năm, anh rút ra 200.000 NDT để dùng cá nhân, số còn lại 250.000 NDT (hơn 934 triệu đồng) vẫn được giữ nguyên trong tài khoản. Từ đó đến năm 2012, anh không thực hiện thêm bất kỳ giao dịch nào liên quan đến số tiền này.
Khi quay lại ngân hàng để rút tiền, anh Phùng bàng hoàng khi được thông báo rằng số dư còn lại chỉ còn hơn 2.000 NDT (khoảng 7 triệu đồng), chủ yếu là lãi tích lũy. Phẫn nộ, anh lập tức khiếu nại, nhưng mọi cố gắng đều không thành công, buộc anh phải khởi kiện ra tòa nhằm yêu cầu ngân hàng hoàn trả số tiền gốc và lãi theo đúng quy định.
Ngân hàng lý giải rằng tài khoản của anh Phùng là tài khoản “không định danh”, vì vào thời điểm đó Trung Quốc chưa áp dụng quy định xác thực danh tính người gửi tiền. Giao dịch rút tiền dựa chủ yếu vào sổ tiết kiệm và mật khẩu. Chỉ đến tháng 4/2000, pháp luật Trung Quốc mới chính thức ban hành quy định về xác thực danh tính cá nhân, đồng thời ngân hàng đã nâng cấp và cấp tài khoản mới cho anh Phùng, khiến sổ tiết kiệm cũ không còn giá trị pháp lý.
Ngân hàng còn cung cấp dữ liệu cho thấy, trong hệ thống của họ, tài khoản của anh từng có một giao dịch rút 250.000 NDT vào ngày 3/9/1997, và phần còn lại hơn 2.000 NDT chỉ là tiền lãi tích lũy. Theo họ, anh Phùng đã bỏ qua nghĩa vụ đối soát sổ sách, đồng thời do chứng từ kế toán đã bị tiêu hủy theo quy định sau 15 năm, nên không còn tài liệu xác minh giao dịch tranh chấp.
Anh Phùng phản đối dữ liệu này, khẳng định mình chưa từng ký hay thực hiện bất kỳ giao dịch rút tiền nào như ngân hàng trình bày. Anh cho rằng, nếu đã rút số tiền lớn như vậy, thì theo lãi suất thời điểm đó, tài khoản không thể chỉ còn hơn 2.000 NDT sau 15 năm.
TÒA ÁN XÉT XỬ VỤ VIỆC: NGHĨA VỤ VÀ TRÁCH NHIỆM CỦA Ngân Hàng
Sau khi xem xét toàn diện, tòa án sơ thẩm khẳng định rằng việc anh Phùng mở sổ tiết kiệm không kỳ hạn đã phát sinh quan hệ hợp đồng tín dụng hợp pháp. Ngân hàng có trách nhiệm bảo vệ tài sản của khách hàng. Tuy nhiên, ngân hàng không thể chứng minh việc rút 250.000 NDT đúng quy trình hoặc xác thực được giao dịch này, đồng thời không còn đủ chứng từ để giải thích rõ ràng.
Tòa cũng nhấn mạnh rằng, ngân hàng không thực hiện đúng nghĩa vụ thận trọng, dẫn đến quyền lợi của anh Phùng bị xâm phạm. Vì không còn chứng cứ rõ ràng, tòa quyết định ngân hàng phải bồi thường đầy đủ số tiền gốc 250.000 NDT cộng thêm lãi suất theo quy định.
Dù ngân hàng kháng cáo, tại phiên tòa phúc thẩm, Tòa án Nhân dân Trung cấp số 2 Bắc Kinh vẫn giữ nguyên quyết định ban đầu. Họ dựa trên chứng cứ ban đầu, trong đó sổ tiết kiệm của anh Phùng thể hiện còn 250.000 NDT, còn ngân hàng không cung cấp được chứng cứ chứng minh giao dịch rút tiền đã thực sự xảy ra. Điều này dẫn đến việc ngân hàng phải chịu trách nhiệm hoàn trả toàn bộ số tiền còn thiếu, cùng khoản lãi tương ứng.
Thông qua vụ việc này, nhiều câu hỏi về quyền lợi người gửi tiền và trách nhiệm của ngân hàng trong việc bảo vệ dữ liệu tài khoản, cũng như vấn đề xác thực danh tính trong hệ thống ngân hàng Trung Quốc thời kỳ chuyển đổi, tiếp tục thu hút sự chú ý của dư luận.