LÀM THẾ NÀO MÀ THỨC GIẢ ĐẠI HỌC ĐÔNG DƯƠNG NĂM 1939 LẠI CHỌN BỎ SỰ THÀNH ĐẠT ĐỂ THEO ĐUỔI TÁC ĐỘNG YÊU NƯỚC?

NHỮNG NGƯỜI THẦY CỦA HẠNH PHÚC ĐẤT NƯỚC: HÀNH TRÌNH CỦA NHÀ GIÁO PHẠM VĂN BỈNH

KHI TINH THẦN CÁCH MẠNG GÁC BÁCH ƯỚC MƠ HƯỚNG VỀ TỰ DO VÀ ĐỘC LẬP

Trong những năm tháng gian khổ của chiến tranh và đấu tranh chống ngoại xâm, nhà giáo Phạm Văn Bỉnh không chỉ mang trong mình trách nhiệm của người thầy mà còn là người chiến sĩ tiên phong, sẵn sàng hiến dâng tất cả cho lý tưởng cách mạng. Ông đã từng hiến cả ngôi trường của mình để ủng hộ phong trào, không tính đếm, so đo, để góp sức dựng xây tương lai đất nước. Mỗi hoạt động của ông đều thể hiện tinh thần cống hiến và niềm tin mãnh liệt vào sự nghiệp giải phóng dân tộc.

Trong cuối năm 1944, ông Bí mật tham gia đoàn đại biểu Việt Nam sang Trung Quốc làm nhiệm vụ ngoại giao, dưới sự chỉ đạo của ông Hoàng Quốc Việt cùng các đồng chí Đặng Việt Châu, Dương Đức Hiền. Trở về quê hương, ông góp phần lãnh đạo chính quyền mới tại Hải Phòng, đồng thời trúng cử đại biểu Quốc hội tỉnh Kiến An (nay là Hải Phòng) vào năm 1946, mở đầu cho hành trình hoạt động chính trị đầy nhiệt huyết.

NHÓM CRAVAT ĐỎ VÀ SỨ MỆNH CỦA NHỮNG ĐẠI BIỂU

Tại kỳ họp thứ hai của Quốc hội khóa I, các đại biểu được phân thành ba phái rõ rệt dựa theo quan điểm chính trị và suy nghĩ chung của từng nhóm. Nhóm tả gồm các đại biểu Mác-xít, trong đó có ông Nguyễn Văn Tạo, đứng đầu, cùng các đại biểu Đảng Xã hội, trong đó có nhà giáo Phạm Văn Bỉnh. Nhóm này đặc trưng bởi trang phục cravat màu đỏ, biểu tượng của sự nhiệt huyết và khát vọng cống hiến. Ông Bỉnh đã thể hiện rõ quan điểm ủng hộ danh sách Bộ trưởng Chính phủ kháng chiến do Chủ tịch Hồ Chí Minh đứng đầu, cùng việc thông qua Hiến pháp 1946, thể hiện sự tin tưởng vào con đường cách mạng.

Trong hội trường, các đại biểu các phái ngồi theo vị trí cố định: bên phải là phái hữu, giữa là phái trung tâm, bên trái là phái tả. Đặc biệt, các nhà giáo trong phái tả đều mang cravat đỏ để thể hiện sự đoàn kết và quyết tâm. Riêng bà Lê Thị Xuyến, đại biểu tỉnh Quảng Nam, là nữ đại biểu duy nhất trong nhóm, mặc áo đỏ nhưng không đeo cravat vì đặc điểm giới tính. Họ đã thể hiện rõ ý chí và quyết tâm bảo vệ đất nước qua từng hành động, trong đó có việc biểu quyết thông qua danh sách các Bộ trưởng chính phủ trong thời kỳ kháng chiến.

SỐNG CHỈ ĐỂ YÊU THƯƠNG VÀ CỐ GẮNG

Ngày 13.1.1946, một sự kiện đã khiến nhiều người dân không khỏi xót xa khi quân Tưởng Giới Thạch lợi dụng khẩu hiệu “Hoa Việt thân thiện” để đi cướp phá huyện Thanh Hà, thuộc tỉnh Kiến An. Với hai chiếc xe, chúng tàn phá nhà cửa, lấy đi tài sản của người dân và dự định mở rộng hoạt động chiếm đóng các khu vực lân cận. Nhờ sự phản ứng quyết đoán của lực lượng vệ quốc, hành động gây rối này đã bị chặn đứng. Đại tá Vũ Hiển, Chủ tịch Ủy ban Quân sự Hải Phòng, đã truy bắt và xử lý các kẻ gây án, trong đó có ông Phạm Văn Bỉnh với vai trò công tố viên, góp phần thể hiện ý chí kiên cường của chính quyền cách mạng cùng nhân dân.

Khi kháng chiến toàn quốc bùng nổ vào tháng 12 năm 1946, ông Bỉnh tiếp tục giữ vai trò trọng trách trong các cơ quan kháng chiến từ Hải Phòng đến Tuyên Quang. Với vẻ hào hoa, giọng nói sang sảng, ông đã góp phần tuyên truyền, giáo dục tinh thần chiến đấu, đồng thời để lại dấu ấn sâu đậm trên khắp các chiến trường Đông Bắc, Việt Bắc và Tây Bắc. Những năm tháng chiến tranh gian khổ khi ấy đã trở thành chất xúc tác hun đúc lòng yêu nước và ý chí kiên cường của ông.

Mãi đến khi hòa bình trở lại năm 1954, ông quyết định trở về với nghiệp giáo, thể hiện qua việc nhận nhiệm vụ giảng dạy tại Trường Đại học Sư phạm Ngoại ngữ, đảm nhận vai trò Phó trưởng khoa rồi Trưởng khoa từ năm 1962 đến khi nghỉ hưu vào năm 1980. Những cuốn sách ông cùng các đồng nghiệp biên soạn trong thời kỳ sơ tán dưới ánh đèn dầu leo lét vẫn là kim chỉ nam cho nhiều thế hệ học sinh yêu thích tiếng Pháp, phản ánh tinh thần cống hiến và niềm tự hào về truyền thống giáo dục nước nhà.

Tấm gương của ông Phạm Văn Bỉnh còn sống mãi qua những lời kể về những người học trò như Đinh Việt Bình. Ông Bình chia sẻ: “Ngày nay, nhiều người vẫn cầm trong tay cuốn sách học tiếng Pháp do thầy Bỉnh cùng nhóm biên soạn trong những ngày khó khăn nhất của đất nước. Chính những trang sách đó mang trong mình sức mạnh của một nền văn minh vĩ đại, là di sản của những người thầy sống để giúp đỡ, truyền đạt tri thức và yêu thương đất nước.”

Những đóng góp lớn lao của ông đã được Nhà nước vinh danh bằng danh hiệu Nhà giáo Ưu tú từ năm 1990 cùng nhiều huân chương cao quý khác, khẳng định vị thế của ông như một biểu tượng của tinh thần học tập, cống hiến và tình yêu đất nước không giới hạn.

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *