XẾP HÀNG CHỜ KIỂM NGHIỆM – NGHỊCH LÝ TRONG CƠ CHẾ XUẤT KHẨU SẦU RIÊNG CỦA VIỆT NAM
Sau vài năm mở cửa chính ngạch, sầu riêng Việt Nam đã ghi dấu ấn rõ nét trên bản đồ xuất khẩu toàn cầu, với kim ngạch tăng vọt từ 400 triệu USD lên hơn 3 tỷ USD, trở thành loại quả xuất khẩu có giá trị lớn nhất của quốc gia và đóng góp gần một nửa cho toàn ngành rau quả. Đồng thời, diện tích trồng sầu riêng đã mở rộng nhanh chóng, hiện đạt khoảng 180.000 ha, sản lượng vượt 1,5 triệu tấn mỗi năm, chủ yếu tập trung tại Tây Nguyên và Đồng bằng sông Cửu Long.
TUYẾN ĐẦU VẤN ĐỀ: CÂY SẦU RIÊNG ĐANG GẶP KHÓ KHĂN TỪ NGÀNH KIỂM NGHIỆM
Chỉ trong năm 2025, hàng nghìn container sầu riêng bị tồn đọng do các phòng kiểm nghiệm không kịp đáp ứng yêu cầu mới từ phía Trung Quốc. Nguyên nhân chính bắt nguồn từ việc Bộ NN-MT đã bổ sung danh sách các phòng thử nghiệm đủ điều kiện, tuy nhiên, năng lực thực tiễn vẫn còn hạn chế, dẫn tới tình trạng quá tải, chậm trễ trong kiểm nghiệm và làm dấy lên nỗi lo về thiệt hại cho doanh nghiệp, nông dân và toàn chuỗi cung ứng.
Theo số liệu của Bộ, đến cuối năm 2025, cả nước đã có 24 phòng kiểm nghiệm được GACC công nhận, công suất lý thuyết khoảng 3.200 mẫu/ngày. Đến giữa 2026, con số này tăng lên, nhưng vẫn chưa đủ để đáp ứng nhu cầu thực tế, phần lớn các phòng tập trung tại TP.HCM, Hà Nội, Cần Thơ, trong khi các vùng nguyên liệu chủ chốt như Đắk Lắk, Đắk Nông, Gia Lai, Tiền Giang vẫn còn rất thiếu phòng thử nghiệm phù hợp. Điều này khiến nhiều doanh nghiệp phải vận chuyển mẫu đi xa, tăng chi phí, thời gian chờ đợi, dễ dẫn đến thất thoát đơn hàng và thua lỗ.
Chuyên gia phân tích tình hình: Mỗi năm, Việt Nam thu hoạch hơn 1,5 triệu tấn sầu riêng, trong khi lượng mẫu kiểm nghiệm cần thiết vô cùng lớn và tập trung vào cao điểm vụ từ tháng 5 đến tháng 10. Sự quá tải xảy ra không chỉ do số lượng mẫu vượt quá khả năng của các phòng kiểm nghiệm, mà còn do khâu bảo trì, hiệu chuẩn thiết bị, hoặc chờ phản hồi từ phía Trung Quốc. Thực tế này từng dẫn đến tình trạng hàng nghìn container phải quay đầu, gây thiệt hại lớn cho doanh nghiệp và các bên liên quan.
HẠN CHẾ VỀ PHÂN BỐ VÀ CHẤT LƯỢNG MẠNG LƯỚI KIỂM NGHIỆM
Thực trạng mạng lưới phòng kiểm nghiệm hiện nay còn phân bổ chưa hợp lý, dẫn đến sự tập trung cao tại các trung tâm chính như TP.HCM, Hà Nội, Cần Thơ, trong khi các vùng nguyên liệu lớn như Đắk Lắk, Lâm Đồng, Gia Lai, Tiền Giang chỉ có rất ít phòng. Nguyên nhân chính là do thiếu cơ sở hạ tầng phù hợp tại các vùng trồng trọng điểm, khiến doanh nghiệp phải vận chuyển mẫu đi xa, phát sinh chi phí, thời gian và nguy cơ giảm chất lượng sản phẩm.
Phóng viên quan sát tại các địa phương cho biết, các vùng có sản lượng lớn như Đắk Lắk chỉ có một phòng kiểm nghiệm, gây quá tải khi cao điểm thu hoạch. Nhiều doanh nghiệp phải chờ đợi nhiều ngày mới đến lượt lấy mẫu và trả kết quả, làm chậm trễ toàn bộ quy trình xuất khẩu. Theo ông Nguyễn Văn Mười, Phó tổng thư ký Hiệp hội Rau quả Việt Nam, nếu so sánh, Thái Lan đã xây dựng mạng lưới các phòng xét nghiệm vệ tinh tại vùng trồng, lên tới khoảng 300 cơ sở, đóng vai trò chủ lực trong sàng lọc ban đầu và giảm tải cho các phòng trung tâm.
KIẾN NGHỊ VÀ GIẢI PHÁP
Ông Mười nhấn mạnh: “Cần phát triển mạng lưới phòng xét nghiệm vệ tinh tại các vùng nguyên liệu, thiết lập cơ chế giám sát định kỳ về đất đai, nước, vật tư nông nghiệp, số hóa toàn bộ dữ liệu từ mã số vùng trồng, cơ sở đóng gói đến kết quả kiểm nghiệm, cùng với nâng cao vai trò của hợp tác xã trong kiểm soát chất lượng.” Khi hệ thống vận hành đồng bộ, áp lực lên các phòng kiểm nghiệm trung tâm sẽ giảm đáng kể, giúp xử lý nguy cơ chậm trễ ngay từ gốc, thay vì chờ trái sầu riêng đã nằm trong container.
Kết quả xuất khẩu trong 5 tháng đầu năm 2026 cho thấy rõ sự tăng trưởng, kim ngạch sầu riêng đạt 562,4 triệu USD, tăng 45,2% so với cùng kỳ năm ngoái, chiếm 20,3% tổng kim ngạch ngành rau quả.
TÓM LƯỢC: CẦN THAY ĐỔI ĐỂ KHẢ NĂNG CẠNH TRANH
Mặc dù Việt Nam có thể còn vượt Thái Lan về số lượng phòng kiểm nghiệm, nhưng sự phân bố không hợp lý và quá tải đã trở thành rào cản lớn trong xuất khẩu sầu riêng. Để nâng cao khả năng cạnh tranh bền vững, cần đầu tư phát triển mạng lưới phòng xét nghiệm vệ tinh, nâng cao hệ thống quản lý chất lượng từ các vùng nguyên liệu đến các cơ sở đóng gói, và thúc đẩy hợp tác xã tự kiểm tra chất lượng từ sớm. Chỉ khi đó, chuỗi cung ứng sầu riêng Việt Nam mới thực sự đáp ứng được tiêu chuẩn quốc tế và giữ vững vị thế trên thị trường toàn cầu.