CẢNH BÁO KHẨN – CHỦ ĐẬP PHẢI THÔNG BÁO TRƯỚC KHI XẢ LŨ, NGƯỜI DÂN TRONG VÙNG HẠ DU ĐƯỢC BẢO VỆ TỐI ĐA!

HỆ THỐNG CẢNH BÁO HỒ THỦY LỢI VẪN CHƯA ĐỒNG ĐỀU, NGUY CƠ MẤT AN TOÀN CÒN RỖNG RỄ

Trong bối cảnh diễn đàn về chuyển đổi số và ứng dụng công nghệ trong vận hành hồ chứa, vấn đề còn tồn đọng của hệ thống cảnh báo tại các hồ thủy lợi đã được mổ xẻ rõ nét. Mặc dù quy định đã rõ ràng trong luật phòng chống thiên tai và các quy trình vận hành, nhưng thực tế việc thực hiện còn nhiều hạn chế nghiêm trọng.

Hệ thống cảnh báo tự động tại các hồ lớn đã được triển khai và truyền tải qua nhiều kênh khác nhau như loa phát thanh, tin nhắn SMS, cảnh báo còi. Trong khi đó, phần lớn các hồ chứa vừa và nhỏ vẫn hành chính hóa qua việc thông báo thủ công, như gọi điện thoại hoặc công văn, gây ra những chậm trễ và thiếu cập nhật trong các tình huống mưa lũ diễn biến dữ dội.

Thủy điện Sông Ba Hạ từng vận hành xả lũ với lưu lượng trên 16.000 m³/giây, làm rõ ràng rằng các hồ này có khả năng phản ứng nhanh chóng và chính xác hơn trong khâu cảnh báo, nhưng vẫn còn nhiều hồ chưa đáp ứng được.

Thực trạng quản lý và vận hành đập cũng còn nhiều hạn chế. Theo Cục Quản lý và xây dựng công trình thủy lợi, các hồ chứa quan trọng, lớn đều thực hiện khá tốt quy định về an toàn đập, song tỷ lệ của các hồ cấp xã còn thấp đáng báo động. Chỉ có 30% số hồ có phương án ứng phó khẩn cấp, 51% có phương án bảo vệ, 9% được kiểm định an toàn đập, 31% có quy trình vận hành, 19% lắp thiết bị quan trắc khí tượng thủy văn, và chưa đến 12% cắm mốc phạm vi bảo vệ.

Chia sẻ từ GS – TS Nguyễn Quốc Dũng, Phó chủ tịch thường trực Hội Đập lớn và Phát triển nguồn nước Việt Nam, cho biết quy trình vận hành hồ gồm ba giai đoạn: hạ mực nước vào đầu vụ để đón lũ, cân nhắc lưu lượng xả phù hợp giữa các thời điểm, và tích nước phù hợp vào cuối mùa. Tuy nhiên, thực tế vừa qua, các đợt lũ lớn xảy ra vào cuối mùa khiến các hồ đã đầy nước, dung tích đón lũ cạn kiệt, gây ra nhiều thiệt hại.

Các hồ chứa do doanh nghiệp đầu tư, trước đây nhằm mục đích phát điện, nay phải điều chỉnh để phòng tránh lũ, dẫn đến phương pháp vận hành mang tính “vừa làm vừa nghe”, gây mâu thuẫn lợi ích rõ rệt. Một ví dụ điển hình là quy trình xả lũ theo mức từ 0 đến 5.000 m³/giây; nhưng trong thực tế, chủ hồ có thể xả một cách linh hoạt, tăng cao vào chiều tối khiến dân cư xung quanh không kịp phản ứng.

Trong cuộc trao đổi với Báo Thanh Niên, luật sư Hà Hải nhấn mạnh, theo quy định của luật Thủy lợi và Nghị định 114 năm 2018, việc xả lũ phải được thông báo rõ ràng cho chính quyền địa phương và nhân dân trong vùng hạ du qua các phương tiện chính thống như hệ thống báo xả lũ, nhằm đảm bảo an toàn tuyệt đối. Thực tế, các hồ chưa có quy trình vận hành rõ ràng, hoặc vận hành trái quy trình sẽ gây hậu quả nghiêm trọng, đòi hỏi xử lý theo pháp luật.

Các quy định rõ ràng đã đề ra về trách nhiệm cá nhân và tổ chức trong việc cảnh báo, vận hành đúng quy trình. Trong đó, bắt buộc phải thông báo trước ít nhất một khoảng thời gian tối thiểu, sử dụng tín hiệu rõ ràng, truyền lệnh chính xác tới các lực lượng liên quan. Trong trường hợp vi phạm, tùy mức độ, các hành vi sai phạm có thể bị xử lý hành chính với mức phạt từ 30 đến 100 triệu đồng hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự, đặc biệt khi gây hậu quả nghiêm trọng về tính mạng, tài sản của nhân dân.

Tổng cộng hiện nay có hơn 7.300 hồ chứa trên toàn quốc, trong đó gần 600 hồ cao hơn 5 m, còn lại hơn 6.700 hồ nhỏ, góp phần tích trữ khoảng 15 tỷ m³ nước phục vụ nông nghiệp, sinh hoạt và công nghiệp. Tuy nhiên, hệ thống này vẫn còn nhiều bất cập về quản lý, cảnh báo và vận hành an toàn, đòi hỏi các cơ quan chức năng phải nâng cao trách nhiệm và hoàn thiện quy trình để giảm thiểu tối đa những rủi ro do xả lũ sai quy trình, gây thiệt hại lớn cho cộng đồng.

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *