NHIỀU CẢI CÁCH ĐANG ĐƯỢC THỰC HIỆN ĐỂ TIẾN TỪ NGHIÊN CỨU SANG ỨNG DỤNG THỰC TIỄN
Năm 2026-2027, ngân sách dành cho nghiên cứu khoa học trong lĩnh vực y tế và dược phẩm đã tăng rõ rệt, ước đoán khoảng 100 tỉ đồng. Các khoản kinh phí này nhằm thúc đẩy các dự án phát triển, ứng dụng các phương pháp chẩn đoán và điều trị tiên tiến, công nghệ phòng chống bệnh tật, phát triển vaccine, cũng như ứng dụng công nghệ cao trong phục vụ sản xuất dược liệu và xây dựng chính sách y tế hiệu quả hơn. Đặc biệt, đang có xu hướng mở rộng thương mại hóa các kết quả nghiên cứu để chuyển từ phòng thí nghiệm ra thị trường.
Các đơn vị công lập được giao quyền sở hữu “sổ đỏ” đối với các kết quả nghiên cứu, giúp chủ động đàm phán thương mại hóa mà không còn phụ thuộc nhiều vào các cơ quan quản lý. Tới đây, Việt Nam dự kiến hình thành các trung tâm đổi mới sáng tạo, xây dựng mô hình ba nhà gồm quản lý, khoa học và nhà sản xuất (doanh nghiệp). Đặc biệt, sẽ có cơ chế phối hợp chặt chẽ giữa các bên trong nghiên cứu, chuyển giao công nghệ, sản xuất và thương mại hóa các sản phẩm y dược, nhằm thúc đẩy mạnh mẽ hơn hoạt động ứng dụng khoa học.
Tại hội thảo về sở hữu trí tuệ và thương mại hóa kết quả nghiên cứu trong lĩnh vực y tế do Cục Khoa học công nghệ và Đào tạo Bộ Y tế tổ chức ngày 16.1 tại Hà Nội, đại diện Bộ Y tế nhấn mạnh những tiến bộ trong ngành dự kiến sẽ giúp các nhà khoa học y dược thoái mái hơn trong việc đưa các kết quả nghiên cứu ra thị trường.
Tuy nhiên, theo ban tổ chức, dù các nhà khoa học trong lĩnh vực y, dược có nhiều công trình công bố quốc tế và sản phẩm tiềm năng như vaccine, thuốc, vẫn còn nhiều khó khăn trong việc thương mại hóa kết quả. Nhiều nghiên cứu tốt, như sản phẩm từ dược liệu hỗ trợ điều trị ung thư, đã được lâm sàng đánh giá thành công nhưng vẫn chưa chuyển giao thành công sang doanh nghiệp sản xuất vì các thủ tục phức tạp, quyền sở hữu kết quả còn chưa rõ ràng, cùng việc định giá thương mại chưa đủ rõ ràng để đàm phán.
Tiến sĩ Nguyễn Ngô Quang, Cục trưởng Cục Khoa học công nghệ và Đào tạo, cho biết nguyên nhân chủ yếu đến từ trách nhiệm chưa rõ ràng của các đơn vị trong việc sở hữu trí tuệ và còn thiếu cơ chế phân bổ lợi ích rõ ràng từ hoạt động dịch vụ khoa học công nghệ để tạo động lực nghiên cứu. Ông nhận định, việc sửa đổi các luật liên quan, đặc biệt các nghị quyết về khoa học công nghệ, đã mở ra nhiều cơ hội hơn cho việc cấp kinh phí, mở thủ tục, chủ động hơn trong quản lý đề tài, từ đó thúc đẩy hoạt động nghiên cứu và tăng tỷ lệ các kết quả ứng dụng.
Các chính sách mới này nhằm tạo điều kiện để các kết quả nghiên cứu sớm đến tay người bệnh, phục vụ cộng đồng, và giảm tình trạng các đề tài sau khi hoàn thành bị “cất trong tủ”.
Các đơn vị công lập sẽ được chuyển quyền sở hữu kết quả nghiên cứu từ ngân sách, cho phép chủ động đàm phán chuyển giao sản phẩm mà không gặp nhiều ràng buộc hành chính. Ông Quang cũng đề xuất các đơn vị cần chú trọng về sở hữu trí tuệ, phân chia quyền lợi hợp lý cho các thành viên nghiên cứu và nâng cao năng lực định giá đề tài để đàm phán hiệu quả.
Hiện nay, các đề tài khoa học đã được tuyển chọn dựa trên ý tưởng từ các nhà nghiên cứu và các đơn vị nghiên cứu, dựa trên định hướng chiến lược của ngành, thay vì chờ đợi cơ quan quản lý đưa ra đề bài. Điều này giúp thúc đẩy mạnh mẽ hơn quá trình chuyển hóa các nghiên cứu thành sản phẩm thực tiễn, góp phần đưa Việt Nam bước vào giai đoạn mới của đổi mới sáng tạo trong lĩnh vực y tế.