NHIỀU TIÊU CHÍ CHUYỂN ĐỔI TRƯỜNG ĐH SỰ THẬT LÀ MỐI Đe DỌA CHO VẠCH NGHỀ GIÁO DỤC ĐẠI HỌC VIỆT NAM
Mới đây, dự thảo nghị định chi tiết một số điều của luật Giáo dục đại học đã có những điều chỉnh đáng kể về tiêu chuẩn để chuyển đổi trường đại học thành đại học. Những thay đổi này nhằm thúc đẩy tiêu chuẩn giáo dục đa ngành, đa lĩnh vực, hội nhập quốc tế, liên kết giữa đào tạo, nghiên cứu khoa học và đổi mới sáng tạo. Tuy nhiên, các chuyên gia và lãnh đạo các trường đều bày tỏ sự băn khoăn về tính khả thi của các tiêu chí này.
NGUY CƠ CHẠY THEO SỐ LƯỢNG ĐỂ ĐẢM BẢO TIÊU CHÍ
PGS-TS Nguyễn Minh Hòa, Hiệu trưởng Trường ĐH Trà Vinh, cho rằng quy định mới mang tính lý tưởng, chưa thực tế khi nhiều trường hiện tại vẫn chưa đáp ứng được. Các tiêu chuẩn như phải có tối thiểu 5 trường thành viên, 25 ngành đào tạo tiến sĩ, mỗi trường thành viên phải đào tạo ít nhất 5 ngành TS, đều không phản ánh đúng thực trạng của các trường.
Ông nhận định: “Tiêu chí này mang tính cơ học, chưa dựa trên thực tế. Mỗi trường có thế mạnh và lĩnh vực đào tạo khác nhau, có những ngành cần nhiều TS hơn, có lĩnh vực ít người học TS”. TS Võ Văn Tuấn, Phó hiệu trưởng Trường ĐH Văn Lang, cũng nêu ý kiến: điều này không hợp lý nếu không phân biệt lĩnh vực và loại hình trường. Có thể dẫn tới việc các trường mở ngành tràn lan để đạt tiêu chuẩn, gây rối loạn cấu trúc ngành nghề.
Theo dữ liệu các trường đã công khai, nhiều trường khó đạt các tiêu chí về tỷ lệ giảng viên TS hay số lượng đào tạo sau đại học, như ĐH Kinh tế TP.HCM chỉ có 44,14% giảng viên có trình độ TS, ĐH Bách khoa Hà Nội đạt 4,7% người học sau ĐH, trong khi ĐH Duy Tân mới đạt 1,24%.
HỢP LÝ NHƯNG… THIẾU THỰC TẾ?
Trong bối cảnh này, việc đặt ra tỷ lệ 20% người học sau ĐH và thu từ nghiên cứu khoa học (KH-CN) là mục tiêu khó khả thi, như nhận định của PGS-TS Nguyễn Minh Hòa. Các trường hiện có tỷ lệ này rất thấp do nguồn tài trợ hạn hẹp, việc thương mại hóa kết quả nghiên cứu còn nhiều thách thức.
TS Võ Văn Tuấn cũng cho rằng, dù nâng tiêu chuẩn về quy mô, số trường trực thuộc, tỷ lệ giảng viên TS và GV quốc tế là hợp lý, nhưng việc đặt mục tiêu 20% người học sau ĐH có thể gây áp lực quá lớn, khiến các trường chạy theo số lượng hơn là chất lượng.
NHỮNG QUỐC GIA VÀO CHUYỆN ĐỊNH NGHĨA ĐẠI HỌC
Thạc sĩ Châu Dương Quang, đến từ Trường ĐH Giáo dục, ĐH Quốc gia Hà Nội, nhận xét rằng các quốc gia phát triển có những quy định phân chia rõ ràng giữa các loại hình trường. Ở Pháp, các trường đại học phải đáp ứng tiêu chuẩn về quy mô, quản trị và tài chính mới được gọi là university; ở Anh, danh xưng này chỉ dành cho các trường đáp ứng tiêu chuẩn về quy mô sinh viên, chương trình đào tạo; còn ở Mỹ, university thường có các chương trình sau ĐH và nhiều ngành đa dạng.
Ông Quang đề xuất: Thay vì đặt ra các tiêu chí cứng như hiện nay, nên chỉ quy định tổng số ngành đào tạo TS của một trường, ví dụ 25 ngành, cho phép linh hoạt hơn trong quá trình mở ngành và phát triển. Đồng thời, cần có các hình thức xử phạt rõ ràng nếu vi phạm tiêu chuẩn trong thời gian dài để giữ vững danh xưng.
Ý KIẾN CHUYÊN GIA VỀ SỰ PHÂN CHIỀU VỀ ĐỊNH HƯỚNG ĐẠI HỌC
Nguyên Thứ trưởng Bộ GD-ĐT, PGS-TS Bùi Văn Ga, cho rằng các tiêu chí mới đã nâng cao chất lượng hơn, đặc biệt về đào tạo nhân lực chất lượng cao. Tuy nhiên, ông cảnh báo rằng việc áp dụng chung sẽ gây khó cho nhiều trường do mỗi trường có thế mạnh riêng và tập trung đào tạo theo lĩnh vực nhất định.
Ông đề xuất phân cấp thành các nhóm trường theo định hướng nghiên cứu hoặc ứng dụng, để có thể xác định trọng số phù hợp cho các tiêu chí. Ví dụ, các trường nghiên cứu sẽ được đánh giá cao về nghiên cứu và công bố quốc tế; các trường ứng dụng sẽ chú trọng sáng chế, chuyển giao công nghệ.
TỶ LỆ GIẢNG VIÊN TS VÀ KẾ HOẠCH ĐÀO TẠO ĐỂ ĐẢM BẢO TIÊU CHÍ
PGS-TS Bùi Quang Hùng, Phó giám đốc ĐH Kinh tế TP.HCM, chia sẻ về các kế hoạch cụ thể của trường trong giai đoạn tới. Trong đó, đặc biệt chú trọng nâng cao tỷ lệ giảng viên có trình độ TS lên tới 70%, mở rộng hợp tác quốc tế để tăng cường nghiên cứu, chuyển giao công nghệ, đồng thời thúc đẩy các đề án định hướng phát triển dài hạn từ năm 2025 đến 2045.
UEH đã đạt tỷ lệ 66% giảng viên TS và đang tích cực thực hiện các đề án để đảm bảo các tiêu chí còn lại trong dự thảo nghị định mới, nhằm giữ vững vị thế của mình trong hệ thống giáo dục đại học quốc gia.