Nguy hiểm nhất chính là phía nào cũng đứng về phía đúng đắn!
QUY TRÌNH ĐIỀU HÀNH THỦY ĐIỆN XẢ LŨ: AI ĐANG GIẬN DẬY NGUY CƠ?
Diễn đàn về chuyển đổi số, ứng dụng công nghệ trong vận hành và bảo đảm an toàn đập, hồ chứa nước do Cục Quản lý và Xây dựng công trình thủy lợi phối hợp Báo Nông nghiệp và Môi trường tổ chức ngày 21.11 tại Hà Nội đưa ra nhiều vấn đề nóng bỏng, trong đó nổi bật là câu chuyện thủy điện xả lũ và thực trạng an toàn thiên tai.
Thời điểm gần đây, thủy điện Sông Ba Hạ đã vận hành xả lũ với lưu lượng trên 16.000 m3/giây, làm dấy lên những tranh luận về việc xả lũ gây ngập lụt cho cư dân vùng hạ du. Vấn đề này nhận được sự quan tâm đặc biệt khi miền Trung liên tiếp đối mặt với mưa lũ kéo dài, gây thiệt hại nặng nề. GS-TS Nguyễn Quốc Dũng, Phó chủ tịch thường trực Hội Đập lớn và Phát triển nguồn nước Việt Nam, nhận định rõ nguyên nhân.
Ông cho biết, mưa lũ xảy ra không chỉ với cường độ lớn mà còn kéo dài 2-3 ngày. Trong ngành khí tượng thủy văn, mưa kéo dài là hiện tượng rất khó dự báo. Khi đó, các hồ chứa, vùng trũng đã đầy nước, rừng không thể hấp thụ hết lượng mưa, dẫn tới các đỉnh lũ lớn. Ông gọi hiện tượng này là lũ kép, và chỉ ra rằng quy trình vận hành hồ chứa trước đây chỉ dùng mô hình lũ đơn, nhưng hiện nay đã phải tính đến lũ kép để phù hợp thực tế.
Câu hỏi liên quan đến trách nhiệm có phải lỗi của thủy điện hay không, được đặt ra nhiều và gây tranh luận. GS-TS Nguyễn Quốc Dũng phân tích rõ, mỗi khi thủy điện xả lũ, các chủ đập đều khẳng định tuân thủ đúng quy trình. Cơ quan phòng chống thiên tai các địa phương cũng làm đúng trách nhiệm của mình. Tuy nhiên, thực trạng phần lớn địa phương thiếu bộ phận tư vấn chuyên môn về thủy văn, thủy lực, không đủ cơ sở để dự báo, tính toán các kịch bản xử lý phù hợp trong vận hành thủy điện.
Ông nhấn mạnh, các mô hình quốc tế như Nhật Bản, Trung Quốc đều có phòng dự báo thủy văn chuyên trách, theo dõi trực tuyến trong mùa lũ. Nếu Việt Nam không thể thành lập cơ quan như vậy, ít nhất nên thuê dịch vụ, xã hội hóa các mô hình dự báo để nâng cao năng lực dự đoán và ứng phó kịp thời.
Về quy trình vận hành xả lũ, ông cho rằng không cần thiết phải thiết lập hệ thống giám sát phức tạp, vì theo quy định, quyền ra lệnh xả lũ thuộc về chủ tịch tỉnh. Tuy nhiên, thực tế, các địa phương hầu như chưa có bộ phận đủ năng lực để tính toán, dự báo các kịch bản xả lũ phù hợp. Đây chính là lỗ hổng lớn trong quản lý hiện nay.
Một điểm mâu thuẫn khác nằm ở quy trình điều hành hồ chứa theo mùa vụ. Trong đầu mùa, hồ phải hạ mực nước để đón lũ, giữa vụ thì hạn chế xả để duy trì mức nước, cuối mùa tích nước đạt mực bình thường. Nhưng thực tế những trận lũ lớn cuối mùa thường xảy ra khi hồ đã đầy, không còn nhiều dung tích để đón lũ. Chủ thủy điện, phần lớn là doanh nghiệp, được lập trình theo mục đích phát điện, nên khi yêu cầu hạ mực nước để tránh lũ, họ đôi khi phải làm vừa làm vừa nghe theo quy trình vừa linh hoạt để ứng phó tình hình thực tế.
GS-TS Nguyễn Quốc Dũng phân tích: Trong quá trình vận hành, nếu đưa ra mức xả từ 0-5.000 m3/giây, chủ hồ có thể xả ỳ ậm sáng sớm, rồi trong chiều, trước đợt lũ lớn, sẽ tăng lượng xả lên đến 4.000 m3/giây khiến dân cư hạ du không kịp ứng ứng. Điều này cho thấy, việc hành chính hóa lệnh xả lũ quá cứng nhắc chính là nguyên nhân dẫn đến thiệt hại, chứ không thể quy trách nhiệm hoàn toàn cho chủ đập.
Phó chủ tịch Hội Đập lớn và Phát triển nguồn nước Việt Nam đề xuất ý tưởng thuê dung tích phòng lũ cho các hồ chứa lớn để giảm thiểu rủi ro. Giả dụ khi dung tích đón lũ còn khoảng 70-80 triệu m3 trong khi dự báo đợt mưa sắp tới cần khoảng 200 triệu m3, có thể yêu cầu chủ hồ xả một phần nước trước để tăng dung tích phòng. Sau đó, nếu lũ không đến mức dự báo, phần kinh phí bù đắp cho các chủ hồ có thể được lấy từ Quỹ Phòng chống thiên tai, nhằm khắc phục thiệt hại do việc xả lũ đã phải thực hiện trước trong phòng chống lũ lụt.
Tổng thể, vấn đề không chỉ nằm ở nhận thức, quy trình hay trách nhiệm đơn lẻ, mà còn ở cách làm chủ các hồ chứa phải linh hoạt, phù hợp với điều kiện thời tiết ngày càng biến đổi. Chính sự phối hợp chặt chẽ giữa các cấp, các bộ phận chuyên môn mới có thể giảm thiểu tối đa nguy cơ thiên tai, đồng thời giữ an toàn cho cộng đồng.