KHÁM PHÁ BƯỚC CHUYỂN NGHƯỢC CỦA KHÔNG CHỈ LÀ THÀNH TỰU, MÀ LÀ SỰ THAY ĐỔI VỀ TƯ DUY VÀ CÁCH LÀM MỚI MẠNH MẼ HƠN!

KHOA HỌC CÔNG NGHỆ VÀ Đổi Mới Sáng Tạo: Chìa Khóa Vươn Xa Của Việt Nam Trong Thời Đại Mới

Nhân sự kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ 14, đánh dấu bước ngoặt quan trọng mở ra giai đoạn phát triển mới của đất nước, Bộ trưởng Bộ KH-CN Nguyễn Mạnh Hùng đã chia sẻ với báo chí về vai trò then chốt của khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số trong chiến lược phát triển bền vững của Việt Nam.

MỞ KHÓA ĐIỂM NGHẼN THỂ CHẾ

Phóng viên: Thưa Bộ trưởng, nhìn lại nhiệm kỳ 2021-2025, ông đánh giá những chuyển biến nào đã tạo nền tảng để nâng cao năng lực cạnh tranh của nền kinh tế?

Bộ trưởng Nguyễn Mạnh Hùng: Những thành tựu nổi bật nhất không chỉ là các kết quả cụ thể mà còn là sự chuyển đổi trong nhận thức và tư duy về phát triển. Chúng ta đã xây dựng nền móng cho một hệ quy chiếu mới, trong đó khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số hướng đến kết quả, lấy hiệu quả phát triển kinh tế-xã hội làm trung tâm. Chuỗi hoạt động nghiên cứu, ứng dụng, thương mại hóa cũng được đặt trong cùng một logic hướng tới giải quyết các bài toán phát triển thực tiễn thay vì vận hành rời rạc.

Những thay đổi căn bản thể hiện rõ qua ba phương diện chính. Thứ nhất là thể chế kiến tạo, đã tháo gỡ nhiều điểm nghẽn tạo điều kiện cho khoa học và công nghệ đi sâu vào đời sống và sản xuất. Năm cuối nhiệm kỳ, bộ đã chủ trì, phối hợp xây dựng, sửa đổi và trình Quốc hội ban hành 10 luật cùng nhiều nghị định, nhằm tạo ra khung pháp lý mở khóa, thúc đẩy đổi mới sáng tạo. Thứ hai là hạ tầng số và năng lực quản trị số đã được nâng cao rõ rệt, được quốc tế ghi nhận qua thứ hạng cao hơn trong các chỉ số về chính phủ điện tử, mạng lưới internet truy cập rộng khắp, phủ sóng 4G và 5G mạnh mẽ. Thứ ba là năng lực đổi mới sáng tạo của hệ sinh thái khởi nghiệp, góp phần nâng cao vị thế cạnh tranh của quốc gia, với chỉ số đổi mới sáng tạo của Việt Nam xếp thứ 44 toàn cầu.

Tôi cho rằng đà chuyển đổi này không chỉ thể hiện qua các số liệu mà còn qua việc đổi mới hoạt động của doanh nghiệp, chuyển đổi số trong toàn nền kinh tế, và quản trị dựa trên kết quả ngày càng trở thành tiêu chuẩn mới.

TiẾP CẬN “MỞ KHÓA” ĐIỂM NGHẼN THỂ CHẾ

Phóng viên: Việc Bộ KH-CN chủ trì soạn thảo, sửa đổi 10 luật về khoa học sáng tạo đã mở ra những cơ hội mới như thế nào cho hoạt động nghiên cứu, đổi mới sáng tạo và thương mại hóa công nghệ, đặc biệt là với các doanh nghiệp?

Bộ trưởng Nguyễn Mạnh Hùng: Thực tế, thể chế cản trở tồn tại nhiều năm như thủ tục phức tạp, quan điểm quản lý thiên về kiểm soát, hạn chế không gian thử nghiệm và quyền sở hữu kết quả nghiên cứu chưa đủ mạnh mẽ. Việc Quốc hội thông qua các luật mới không chỉ đơn thuần là bổ sung văn bản pháp lý mà còn tạo ra khung khổ mở cho phát triển, dẫn dắt hoạt động khoa học công nghệ theo hướng rủi ro có kiểm soát, chấp nhận thất bại để đổi mới. Các luật như luật Trí tuệ nhân tạo, luật Chuyển đổi số là những bước đi tiên phong, mở ra không gian sáng tạo rộng lớn hơn.

Việc này cũng thúc đẩy tư duy mới trong quản lý nhà nước, coi trọng vai trò của doanh nghiệp trong hệ sinh thái đổi mới sáng tạo. Doanh nghiệp không chỉ nhận công nghệ mà còn chủ trì đặt hàng, hợp tác nghiên cứu, có cơ chế rõ ràng về sở hữu và thương mại hóa kết quả. Khi doanh nghiệp có lợi ích rõ ràng, họ mới dám đầu tư nhiều hơn cho R&D và đổi mới sáng tạo.

Thương mại hóa công nghệ cũng đã chuyển từ các thủ tục phức tạp sang quy trình đơn giản, giúp rút ngắn thời gian để sản phẩm, công nghệ “Make in Vietnam” ra thị trường. Cơ chế thử nghiệm có kiểm soát (sandbox) ra đời, tạo điều kiện cho các dự án, công nghệ mới thử nghiệm hợp pháp, giảm rủi ro, mở rộng quy mô khi đã đảm bảo an toàn.

Quan trọng nhất, hoạt động nghiên cứu gắn liền với thực tế thị trường, dựa trên cơ chế hợp tác công tư và đặt hàng của Nhà nước, giúp nhanh chóng chuyển đổi sáng kiến thành sản phẩm, dịch vụ có giá trị thị trường.

NGƯỜI DÂN VÀ DOANH NGHIỆP NHẬN HƯỞNG ỨNG HAY NHỮNG ĐỔI THAY ĐÁNG KỂ

Phóng viên: Trong 5 năm qua, theo Bộ trưởng, người dân và doanh nghiệp đã hưởng lợi rõ rệt nhất từ những thay đổi nào, từ thủ tục hành chính, dịch vụ công đến năng lực sản xuất và chất lượng sản phẩm?

Bộ trưởng Nguyễn Mạnh Hùng: Có ba nhóm thay đổi rõ nét nhất. Thứ nhất là về cách thức phục vụ của Nhà nước, đã chuyển từ thủ tục rườm rà sang dịch vụ công số hóa, giảm giấy tờ, giảm đi lại, rút ngắn thời gian chờ đợi. Đến năm 2025, tỷ lệ hồ sơ trực tuyến toàn trình chiếm gần 78%, dịch vụ công có thể xử lý trực tuyến gần 84%, phản ánh rõ sự dịch chuyển trong việc phục vụ người dân và doanh nghiệp.

Thứ hai, năng lực và năng suất của doanh nghiệp đã được nâng cao qua ứng dụng công nghệ, tự động hóa, quản trị số và khai thác dữ liệu để tối ưu hoạt động, rút ngắn thời gian sản xuất, giảm lỗi và tiết kiệm chi phí. Qua đó, chất lượng sản phẩm được nâng cao rõ rệt.

Thứ ba, từ góc độ người dân, không gian số trở thành không gian sống mới, nơi có thể tiếp cận các dịch vụ tiêu chuẩn của giáo dục, y tế, tài chính, thương mại một cách nhanh chóng, cá nhân hóa và công bằng hơn. Người dân được hưởng lợi từ sự thuận tiện, doanh nghiệp từ năng suất và chất lượng, còn Nhà nước từ năng lực quản trị tốt hơn. Chính sự đổi mới này mới là thước đo rõ nét về tác động của khoa học công nghệ và sáng tạo vào đời sống.

CHẤP NHẬN RỦI RO CÓ KIỂM SOÁT VÀ MỤC TIÊU THEO KẾT QUẢ

Phóng viên: Điểm khác biệt lớn của Nghị quyết 57 là quản lý theo kết quả đầu ra. Bộ trưởng có thể nêu các mục tiêu, chỉ tiêu cụ thể để minh chứng điều này?

Bộ trưởng Nguyễn Mạnh Hùng: Trước đây, quản lý chủ yếu dựa vào kiểm soát chặt đầu vào, thủ tục hành chính rườm rà, trong khi yêu cầu về kết quả không rõ ràng. Điều này khiến các nhà khoa học dành nhiều thời gian cho giấy tờ và quy trình, hạn chế sáng tạo. Nghị quyết 57 đã thay đổi trật tự đó, chuyển sang quản lý theo mục tiêu và kết quả cuối cùng, cho phép thử nghiệm, chấp nhận rủi ro có kiểm soát.

Chúng ta đã đặt ra các mục tiêu rõ ràng như tỷ lệ đóng góp của năng suất các nhân tố tổng hợp vào tăng trưởng đạt trên 55%, thể hiện yêu cầu tăng năng suất dựa trên khoa học và công nghệ. Đồng thời, hình thành ít nhất 5 doanh nghiệp công nghệ số đủ sức cạnh tranh quốc tế, chuyển đổi mô hình quản lý dự án, hướng tới đặt hàng và mua kết quả nghiên cứu, chuyển từ quốc gia kiểm soát sang thị trường tự điều tiết.

Các chỉ số đo lường thành công còn bao gồm tỷ lệ khai thác thương mại kết quả nghiên cứu đạt 8-10%, tỷ lệ ngân sách dành cho khoa học chiếm ít nhất 3-4% tổng chi ngân sách quốc gia, và nâng hiệu quả khởi nghiệp sáng tạo, thu hút dòng vốn từ xã hội, quỹ đầu tư mạo hiểm và nguồn lực quốc tế.

Tất cả nhằm thúc đẩy nghiên cứu đi vào thực tiễn, sản phẩm có thể đáp ứng thị trường, hướng tới nền kinh tế dựa trên đổi mới sáng tạo, năng suất và chất lượng cao.

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *