MỘT TRUNG TÂM – HAI ĐIỂM ĐẾN: NGUỒN CẢNH MỚI CHO TÀI CHÍNH VIỆT NAM
Trong cuộc họp về kế hoạch thành lập Trung tâm tài chính quốc tế (TTTCQT), Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính đã công bố chiến lược “một trung tâm – hai điểm đến”. Theo đó, dự án sẽ có hai cơ quan điều hành đặt tại TP.HCM và Đà Nẵng, nhưng sẽ chung một cơ quan giám sát và tòa án chung để xử lý tranh chấp. Thủ tướng yêu cầu các bộ ngành khẩn trương ban hành các nghị định cần thiết để trung tâm đi vào hoạt động ngay trong tháng 11. Bộ chìa khoá nằm ở việc xây dựng chính sách số hóa, ứng dụng trí tuệ nhân tạo và thu hút nhân lực chuyên nghiệp trong và ngoài nước, nhằm tạo ra một trung tâm cạnh tranh và hấp dẫn các nguồn lực quốc tế.
CÙNG VỚI ĐÀ NẴNG, TP.HCM SẼ XÂY DỰNG TRUNG TÂM TÀI CHÍNH QUỐC TẾ
Chính phủ nhấn mạnh vai trò của việc tạo ra một hệ sinh thái kinh tế – xã hội hài hòa, thuận lợi để thu hút các chuyên gia hàng đầu. Điều kiện sống như giao thông, giáo dục, y tế, văn hóa và thể thao tại hai thành phố cần phát huy tối đa để giữ chân nhân tài. Thủ tướng đề cao tính dự đoán và ổn định trong chính sách, giao thoa giữa truyền thống và đổi mới là chìa khóa thành công. Các doanh nghiệp dịch vụ tài chính và phi tài chính cần được cấp phép linh hoạt, giảm thiểu thủ tục hành chính, và pháp lý minh bạch, tự chủ để thúc đẩy hoạt động hiệu quả. Trong quá trình hình thành trung tâm, chuyển giao công nghệ và phát huy nhân lực là yếu tố quyết định hàng đầu, không chỉ giới hạn trong lĩnh vực tài chính mà còn mở rộng sang sản xuất, thương mại và đầu tư, nhằm tạo ra sức cạnh tranh toàn cầu.
NGHIÊN CỨU, CHUẨN BỊ CHU ĐÁO, NHƯNG THỜI GIAN VẪN NHANH
Các chuyên gia cảnh báo rằng việc đưa TTTCQT đi vào hoạt động có thể tiến hành từ tháng 11, bởi công tác chuẩn bị đã bắt đầu từ trước đó. Quá trình này sẽ mất khoảng 3 đến 5 năm để hoàn thiện các công nghệ và kỹ thuật, so với các trung tâm quốc tế khác thường mất từ 20 đến 30 năm. Một số sáng kiến chiến lược đã được đề cập, như thí điểm các sản phẩm fintech trong môi trường kiểm soát (sandbox), ưu đãi thuế, thị thực linh hoạt, và thủ tục nhanh chóng. Các thủ tục như nộp hồ sơ, thẩm định đều sẽ được số hóa, rút ngắn thời gian để thành viên mới được công nhận chỉ trong vòng vài ngày làm việc.
XÂY DỰNG KHUNG PHÁP LÝ VỮNG CHẮC, VƯỢT TRỘI
Theo ý kiến các chuyên gia, bước đầu cần ban hành các quy định rõ ràng dựa trên Nghị quyết số 222 của Quốc hội, cũng như các nghị định hướng dẫn liên quan. Chính phủ cần sớm hoàn thiện khung pháp lý để TP.HCM và Đà Nẵng có cơ sở pháp lý xây dựng trung tâm, từ đó tiến hành tuyển dụng, thành lập ban điều hành và ban hành quy chế hoạt động. TS Đỗ Thiên Anh Tuấn nhấn mạnh rằng cốt lõi của một trung tâm tài chính thành công nằm ở thể chế đặc biệt. Việt Nam cần xây dựng khung pháp lý tự do hóa vốn, áp dụng chuẩn quốc tế hoặc mô hình vùng đặc quyền pháp lý, đồng thời thiết lập cơ chế giải quyết tranh chấp độc lập, kết hợp giữa trọng tài thương mại và tòa tài chính chuyên biệt. Ưu đãi thuế, chính sách hỗ trợ và mô hình quản trị đột phá sẽ là những yếu tố then chốt.
CHUẨN BỊ NGAY – ĐỒNG THỜI HOÀN THIỆN DẦN
Trong chiến lược phát triển, các chuyên gia đều đồng tình rằng trung tâm cần vận hành theo mô hình “vừa làm vừa hoàn thiện”. Ban đầu có thể thí điểm tại các lĩnh vực như thị trường trái phiếu ngoại tệ, giao dịch ngoại hối hay thanh toán xuyên biên giới cho các tổ chức tài chính lớn, sau đó mở rộng dần theo thời gian. Chất lượng nhân sự là yếu tố quyết định; cần đầu tư bài bản vào đào tạo nhân lực quốc tế, xây dựng hệ sinh thái sáng tạo và thúc đẩy chuyển đổi mô hình tăng trưởng dựa trên tri thức và công nghệ. Điểm đặc biệt, trung tâm không chỉ là nơi giao dịch tài chính, mà còn là trung tâm đổi mới sáng tạo, từ đó nâng cao vị thế của Việt Nam trên thị trường toàn cầu.
HƯỚNG TỚI HUY ĐỘNG VỐN QUỐC TẾ CHO TĂNG TRƯỞNG BỀN VỮNG
Trong bối cảnh tín dụng đã chiếm tới 134% GDP, gây ra rủi ro cho nền kinh tế, việc huy động vốn từ các nguồn nước ngoài trở nên cấp thiết. Trung tâm tài chính quốc tế hứa hẹn sẽ trở thành điểm kết nối huy động vốn của các “đại bàng” và tập đoàn quốc tế, thúc đẩy các dòng vốn ngoại vào Việt Nam. Lấy mô hình Hồng Kông năm 1997 làm ví dụ, khi đó 80% vốn đầu tư đến từ nguồn nước ngoài. Việt Nam có thể trở thành trung tâm huy động vốn của cả khu vực Đông Nam Á, phát huy lợi thế công nghệ và sáng tạo để mở rộng dòng chảy vốn và nhân tài quốc tế, góp phần thúc đẩy nền kinh tế tăng trưởng hai chữ số trong tương lai gần.