NẶNG LÒNG VỚI GIANG SAN: HÀNH TRÌNH CỦA VUA HÀM NGHI TRƯỚC GIỌT NƯỚC MẮT LƯU ĐÀY TỨC TỨC
Vua Hàm Nghi sinh năm 1871, tên thật là Nguyễn Phúc Ưng Lịch, là con thứ năm của Kiên Thái Vương Nguyễn Phúc Hồng Cai. Ngay từ khi còn nhỏ, ông đã chứng tỏ khí phách trượng nghĩa qua bài Phú chống Pháp được vua Tự Đức khen ngợi là “khí phách trượng phu”. Từ thuở thiếu thời, nhà vua đã ý thức rõ về hiểm họa mất nước và sẵn sàng đứng lên để bảo vệ Tổ quốc.
Khí phách của vua Hàm Nghi – ảnh 1.
[https://images2.thanhnien.vn/thumb_w/640/528068263637045248/2025/12/30/11a-1767108437784979222371.jpg]
Ngay sau khi biết tin đồn vương triều bị đe dọa bởi sự xâm lược của thực dân Pháp, vua Hàm Nghi đã thể hiện ý chí kiên cường. Dù còn rất trẻ, ông đã cùng phái chủ chiến, đứng đầu là Thượng thư Bộ binh Tôn Thất Thuyết, luôn sẵn sàng đối mặt với hiểm họa. Đêm mồng 4 rạng ngày 5.7.1885, phe chủ chiến tổ chức cuộc tấn công đồn Mang Cá và tòa Khâm sứ Pháp tại Huế. Chiến dịch thất bại, kinh thành thất thủ, nhà vua cùng Tôn Thất Thuyết rút quân, vượt sông qua Tân Sở (Quảng Trị).
Ngày 13.7.1885, tại Tân Sở, Tôn Thất Thuyết thay mệnh nhà vua ban chiếu Cần Vương, kêu gọi toàn dân kháng chiến chống giặc Pháp. Chiếu Cần Vương nhanh chóng lan tỏa khắp nơi, thổi bùng khí thế chống ngoại xâm trong lòng dân tộc, biến phong trào kháng chiến trở thành cuộc đấu tranh quyết liệt của toàn dân. Từ Tân Sở, vua Hàm Nghi cùng đoàn tùy tùng di chuyển qua nhiều vùng rừng núi hiểm trở của Quảng Bình, Hà Tĩnh, rồi sang Lào, sống trong cảnh gian khổ, thiếu thốn, nhưng không hề nao núng ý chí chiến đấu.
Dưới sự chỉ huy của Tôn Thất Thuyết, các phong trào kháng chiến nổ ra khắp các tỉnh miền Trung. Tuy nhiên, chênh lệch về lực lượng và vũ khí cũng như chính sách truy quét gắt gao của Pháp đã dần siết chặt, khiến các cuộc nổi dậy bị đàn áp dữ dội. Năm 1888, Trương Quang Ngọc cùng Nguyễn Đình Tình đã truy lùng và bắt giữ vua Hàm Nghi khi ông đang nghỉ ngơi tại Quảng Bình. Sự kiện này chấm dứt hành trình kháng chiến ở mức độ lãnh đạo trực tiếp của nhà vua.
Ảnh minh họa: Tòa Khâm sứ Pháp tại Huế – nơi từng bị các phe chủ chiến trong triều đình tấn công đêm 4 rạng sáng 5.7.1884. (Nguồn: Tư liệu Bảo tàng Mỹ thuật VN).
Ngày 25.11.1888, vua Hàm Nghi bị đưa xuống tàu tại Lăng Cô để chuyển đến Sài Gòn, rồi hành trình tới Bắc Phi. Ngày 13.1.1889, tàu cập bến thủ đô Alger của Algérie. Lúc ấy, ông mới chỉ 18 tuổi, bắt đầu cuộc đời lưu đày đau thương nơi xứ người. Trao đổi với chúng tôi, hậu duệ của vua Hàm Nghi, nữ tiến sĩ Amandine Dabat, cho biết: “Dù trải qua nhiều gian nan, ông vẫn giữ vững khí tiết và tình yêu quê hương. Sau này, ông bắt đầu học tiếng Pháp và tìm niềm vui trong nghệ thuật, đặc biệt là hội họa. Những tác phẩm của ông đều phản ánh nỗi niềm ưu tư về tổ quốc”.
Năm tháng xa cách, vua Hàm Nghi đã xây dựng cuộc sống mới bên người vợ Pháp tên Marcelle Laloe. Cặp đôi có ba con: công chúa Như Mai, công chúa Như Lý và hoàng tử Minh Đức. Trong thời gian lưu đày, ông còn khám phá sở thích hội họa, thể hiện qua các tác phẩm đầy cảm xúc và nỗi niềm trăn trở về quê cha đất tổ.
Không chỉ là một vị vua yêu nước kiên trung, vua Hàm Nghi còn là một nghệ sĩ tài hoa. Qua những tài liệu quý được hậu duệ và các nhà nghiên cứu sưu tầm, hình ảnh về cuộc đời ông tại Alger dần hiện rõ hơn. Câu chuyện của ông đã trở thành nguồn cảm hứng, khơi dậy niềm tự hào dân tộc và nhắc nhớ các thế hệ mai sau về những hy sinh lớn lao của cha ông vì nền độc lập của đất nước.