TẠI SAO CHỈ HAI CỰU CÁN BỘ NHẬN HỐI LỘ BỊ TRUY CỨU TỘI, CỰU BỘ TRƯỞNG NGUYỄN THỊ KIM TIẾN THÌ KHÔNG?

NHỮNG ĐIỀU CHƯA TƯỞNG VẾT LẠI GÁC NẾU KHÔNG CÓ PHÂN ĐỊNH RÕ RÀNG VỀ TỘI DANH

Trong vụ án liên quan đến các dự án xây dựng chấn động tại Bệnh viện Bạch Mai và Bệnh viện Việt Đức, Viện Kiểm sát Nhân dân tối cao xác định ông Nguyễn Chiến Thắng, cựu Giám đốc Ban Y tế trọng điểm của Bộ Y tế, đã đưa ra yêu sách các nhà thầu chi 5% “hoa hồng” cho 10 gói thầu xây lắp. Các nhà thầu đã chuyển cho ông Thắng hơn 88 tỉ đồng, sau đó ông này khai đã chia cho cựu Bộ trưởng Bộ Y tế Nguyễn Thị Kim Tiến 12,9 tỉ đồng cùng 100.000 USD. Tuy nhiên, bà Tiến khai chỉ nhận 2,5 tỉ đồng.

Khi ông Thắng nghỉ hưu, ông Nguyễn Hữu Tuấn tiếp quản công việc, biết rõ thỏa thuận trước đó, đã tiếp tục nhận hơn 12 tỉ đồng từ các nhà thầu và chuyển cho bà Tiến 5 tỉ đồng. Cả ông Thắng và ông Tuấn đều bị truy tố về tội nhận hối lộ, đồng thời bị cáo buộc vi phạm quy định quản lý, sử dụng tài sản nhà nước gây thất thoát, lãng phí. Riêng bà Tiến thừa nhận cầm 7,5 tỉ đồng nhưng không rõ nguồn gốc, cũng không bị truy tố về tội nhận hối lộ.

VÌ SAO BA BỊ CAN KHÁC NHAU VỀ TỘI DANH?

Luật sư Nguyễn Thị Kim Vinh, nguyên thẩm phán TAND tối cao, giải thích rằng để kết luận một người có phạm tội nhận hối lộ hay không, cần dựa trên các yếu tố cấu thành tội danh theo quy định của Bộ luật Hình sự, trong đó rõ ràng về yếu tố thoả thuận, đổi chác giữa lợi ích và quyền lực. Nhận hối lộ là hành vi lợi dụng chức vụ để nhận hoặc sẽ nhận lợi ích nhằm làm hoặc không làm một việc vì lợi ích của người đưa tiền, dựa trên thỏa thuận rõ ràng.

Trong vụ án của bà Nguyễn Thị Kim Tiến, bà khai không biết nguồn gốc số tiền nhận được và không có chứng cứ nào cho thấy có thỏa thuận, đổi chác. Chính vì vậy, cơ quan tố tụng chưa đủ căn cứ để truy tố bà về tội nhận hối lộ. Việc người đưa tiền thừa nhận và khai ra, nhưng người nhận không thừa nhận hoặc không có chứng cứ chứng minh, khiến vụ án trở nên phức tạp.

KHÔNG PHẢI CỨ NHẬN TIỀN LÀ NHẬN HỐI LỘ

Luật sư Nguyễn Thị Kim Vinh nhấn mạnh rằng, nhận tiền từ doanh nghiệp không đồng nghĩa tự động phạm tội nhận hối lộ. Tùy vào diễn biến hành vi, các chứng cứ thu thập được, cơ quan tố tụng có thể xác định tội danh khác phù hợp như lợi dụng chức vụ để làm trái quy định hoặc tham nhũng theo mức độ cụ thể của từng vụ việc.

Luật sư Nguyễn Ngọc Hùng, thuộc Đoàn luật sư TP. Hà Nội, chia sẻ rằng nhận tiền là một chứng cứ quan trọng nhưng chưa đủ để kết luận phạm tội. Nếu chứng minh được hành vi đó phát sinh từ thỏa thuận để làm hoặc không làm một việc trong phạm vi chức năng, quy định, mới đủ yếu tố của tội nhận hối lộ. Trong khi đó, nếu hành vi nhận tiền xuất phát từ động cơ vụ lợi để làm trái chức năng, thì có thể là tội lợi dụng chức vụ, quyền hạn.

Qua các vụ án điển hình như tại Đồng Nai, nhiều người đã thừa nhận gửi tiền cho cấp trên, nhưng đều khẳng định là “tiền cảm ơn” hay quà lễ, tết, không có ý định đổi chác cho công việc cụ thể. Chính vì thế, việc xác định tội danh phải dựa trên bản chất hành vi và chứng cứ rõ ràng.

KHÔNG PHẢI CỨ NHẬN TIỀN LÀ NHẬN HỐI LỘ

Luật sư Nguyễn Thị Kim Vinh nêu rõ, không thể mặc định mọi hành vi nhận tiền đều là nhận hối lộ. Cơ quan điều tra cần căn cứ vào các chứng cứ, dòng tiền, ghi âm, hình ảnh để phân biệt. Trong nhiều trường hợp, hành vi đó có thể là những khoản tiền tặng, quà cảm ơn, hay tiền trợ cấp hợp pháp, không liên quan đến tham nhũng.

Các chuyên gia luật cũng cảnh báo rằng việc xác định tội danh cần phải cá thể hóa, phân biệt rõ ràng các hành vi để đảm bảo xử lý đúng người đúng tội, tránh gây oan hoặc bỏ lọt tội phạm. Nhận tiền không luôn đi kèm hành vi làm trái quy định, và ngược lại, hành vi làm trái quy định không nhất thiết phải dẫn tới nhận hối lộ nếu không có yếu tố thỏa thuận rõ ràng.

TÓM LẠI, việc phân biệt các tội danh khác nhau dựa trên bản chất hành vi, chứng cứ, và ý nghĩa của hành động mới là yếu tố quyết định chính xác trách nhiệm pháp lý của các bị can trong vụ án này.

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *