Ngành điều Việt Nam: Chỉ gia công phần cuối hay còn nhiều thách thức chưa lộ diện?
Nhiều năm qua, Việt Nam vẫn giữ vững vị thế trung tâm chế biến hạt điều lớn nhất thế giới, chiếm tới 80% sản lượng cung ứng ra thị trường quốc tế và nhập khẩu trên 65% hạt điều thô của toàn cầu. Tuy nhiên, đằng sau danh hiệu hào nhoáng này là một thực tế không mấy sáng sủa về ngành công nghiệp chế biến hạt điều nội địa. Các nhà máy chủ yếu chỉ gia công công đoạn cuối cùng, còn lại phần lớn nguyên liệu phải nhập khẩu, trong khi lợi nhuận ngày càng mỏng và nhiều doanh nghiệp phải đối mặt với lỗ lãi và các vấn đề pháp lý.
Trao đổi với phóng viên Thanh Niên, ông Bạch Khánh Nhựt, Phó chủ tịch thường trực Hiệp hội Điều VN, thừa nhận: ngành chế biến hạt điều trong nước chủ yếu gia công, lợi nhuận thấp do phần lớn nguyên liệu phải nhập khẩu. Trước đây, Việt Nam sở hữu công nghệ chế biến tiên tiến nhất, nhưng gần đây các quốc gia châu Phi đã bước đầu xây dựng nhà máy và nhập khẩu công nghệ chế biến, cạnh tranh ngày càng gay gắt. Với lợi thế gần thị trường châu Âu, có sẵn vùng nguyên liệu, các quốc gia này ngày càng mở rộng thị phần. Ông Nhựt cho biết: Mấy năm gần đây, lượng nguyên liệu điều thô nhập về Việt Nam chủ yếu là điều sơ chế còn sót vỏ lụa, công đoạn này đòi hỏi lao động thủ công mà các nhà máy châu Phi lại chưa xử lý được. Điều này cho thấy ngành điều Việt Nam chỉ còn giữ lại công đoạn gia công cuối cùng, lợi nhuận thấp hơn nhiều so với trước.
Lợi nhuận ngành điều ngày càng mỏng, thậm chí nhiều nhà máy còn rơi vào tình trạng thua lỗ. Theo Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, tính đến hết tháng 10, Việt Nam đã nhập khẩu khoảng 2,6 triệu tấn hạt điều thô, trị giá hơn 4 tỷ USD, tăng 13,8% về lượng và 38,1% về giá trị so với cùng kỳ năm ngoái. Giá trung bình nhập khẩu đạt 1.523 USD/tấn, cao hơn nhiều các năm trước, cho thấy chi phí đầu vào đang leo thang. Phần lớn nguyên liệu (80-90%) đều phải nhập khẩu từ các nước như Campuchia, Bờ Biển Ngà, Nigeria và Ghana. Mặc dù chưa đạt mức 4,1 tỷ USD như năm 2021, giá trị nhập khẩu năm nay vẫn đứng trong nhóm cao nhất lịch sử, phản ánh áp lực chi phí nguyên liệu khiến các doanh nghiệp chế biến gặp nhiều khó khăn.
Một giám đốc nhà máy chế biến tại Đồng Nai chia sẻ: Diện tích trồng điều tại Bình Phước, Đồng Nai ngày càng thu hẹp, thu nhập từ điều không đủ trang trải kinh phí, trong khi các loại cây trồng khác như sầu riêng, hồ tiêu lại có giá cao hơn. Người trồng trước đây chuyển sang trồng các cây công nghiệp, cây ăn quả khác. Đồng thời, Campuchia đã chuyển giao giống điều và sản xuất đại trà từ nhiều năm, trở thành nguồn cung nguyên liệu chính cho các nhà máy Việt Nam. Điều này đặt ra câu hỏi về việc Việt Nam còn kiểm soát được nguồn nguyên liệu hay không.
Dù bỏ ra số tiền lớn để nhập khẩu nguyên liệu chế biến, nhưng kim ngạch xuất khẩu hạt điều nhân gần như không có tiến triển, chỉ tương đương với giá trị nhập khẩu. Theo số liệu của Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, 10 tháng đầu năm, xuất khẩu nhân điều đạt khoảng 4,25 tỷ USD, ngang bằng với giá trị nhập khẩu, cho thấy lợi nhuận còn rất hạn chế, chủ yếu đến từ công đoạn bóc tách, chế biến và đóng gói.
Chủ tịch Hội Điều Đồng Nai, ông Vũ Thái Sơn, cho biết: Khó khăn lớn nhất hiện nay là giá nhập khẩu điều thô quá cao, trong khi giá điều nhân lại tăng chậm hơn. Tình trạng này khiến nhiều nhà máy chế biến gặp khó khăn, thua lỗ hoặc phá sản. Ông Sơn cho biết thêm: Ngành điều Việt Nam đã có lịch sử hàng chục năm, nhưng cạnh tranh gay gắt khiến các doanh nghiệp không thể chủ động về nguyên liệu cũng như thị trường. Các nhà máy thường phải cạnh tranh mua nguyên liệu ở mức giá cao để đảm bảo chất lượng, nhưng lại đối diện rủi ro về đầu ra chưa rõ ràng. Thiếu vốn cũng là điểm yếu chí tử, phần lớn đều vay ngân hàng, khi đến hạn phải thanh toán, nhiều doanh nghiệp không đủ khả năng.
Theo Vinacas, để cải thiện cán cân thương mại, ngành điều cần mở rộng vùng nguyên liệu trong nước, đẩy mạnh chế biến sâu như sản phẩm rang sẵn, hữu cơ, đóng gói cao cấp, cùng với xây dựng thương hiệu quốc gia để nâng giá trị hạt điều VN. Tuy nhiên, các doanh nghiệp cho rằng, vấn đề chính là các nhà cung cấp điều thô châu Phi thường xuyên điều chỉnh giá bán, gây khó cho các nhà chế biến trong nước. Ông Vũ Thái Sơn cho biết: Nếu điều chỉnh giá bán nguyên liệu quá cao, các nhà máy không còn lợi nhuận để mua, dẫn tới tình trạng giá nguyên liệu biến động không ổn định.
Chênh lệch vị thế trở nên rõ nét khi nhiều doanh nghiệp VN đã bắt đầu chuyển hướng đầu tư sang châu Phi để tận dụng nguồn nguyên liệu, trong khi các nhà máy nội địa buộc phải cải tiến công nghệ để giảm chi phí. Ông Sơn chia sẻ: “Hiện tại, tôi đã chuyển toàn bộ dây chuyền của công ty Long Sơn sang công nghệ AI, giúp nâng năng suất, giảm chi phí và giảm bớt lao động, để thích nghi với chi phí nguyên liệu ngày càng đắt đỏ và lợi nhuận thu hẹp.”
Chủ tịch Tập đoàn Dan D Foods của Canada, ông Dan On, cũng thừa nhận: Giá điều nhân của Việt Nam còn quá thấp. Khi Mỹ điều chỉnh thuế nhập khẩu, giá điều nhân cũng không thể tăng theo do lo ngại người tiêu dùng sẽ quay lưng. Ông On nhấn mạnh: Ngành điều Việt Nam cần tăng giá bán, không thể cạnh tranh bằng mức giá thấp mãi. “Giá điều nhân VN bán tại Mỹ chưa đến 3,5 USD/pound cho loại W320, trong khi giá hợp lý phải trên 4 USD/pound. Người tiêu dùng Mỹ vẫn sẵn sàng dùng hạt điều dù giá cao hơn, và chúng tôi sẽ tăng giá bán trong năm tới, không bán rẻ nữa,” ông On khẳng định.
Ngành điều Việt Nam đang đối diện áp lực bảo vệ vị thế hàng đầu thế giới trước sự cạnh tranh ngày càng khốc liệt từ các nước khác, đặc biệt châu Phi. Các doanh nghiệp đều nhận thức rõ rằng, để tồn tại và phát triển bền vững, cần có những chiến lược dài hơi, từ mở rộng vùng nguyên liệu trong nước đến chế biến sâu và xây dựng thương hiệu. Nhưng cho đến khi chủ động kiểm soát tốt nguồn nguyên liệu và thị trường tiêu thụ, vẫn còn nhiều thách thức lớn chờ đợi ngành điều Việt Nam vượt qua.