Chủ sở hữu đập thủy điện phải chịu trách nhiệm trước hậu quả xả lũ gây thiên tai
Trong những ngày qua, các trận bão chồng bão, lũ chồng lũ liên tiếp xảy ra trên diện rộng đã gây thiệt hại nặng nề cho người dân và tài sản của đất nước. Tính đến ngày 24.11, theo số liệu của Cục Quản lý đê điều và phòng chống thiên tai, đợt thiên tai này đã làm 409 người thiệt mạng hoặc mất tích, hơn 727 người bị thương; hơn 337.000 ngôi nhà bị sập hoặc hư hỏng; thiệt hại kinh tế ước tính lên tới trên 85.099 tỷ đồng. Trong đó, các hoạt động xả lũ không kiểm soát từ các hồ thủy điện đã làm trầm trọng thêm tình hình, gây ngập lụt nặng nề tại nhiều địa phương.
THỦY ĐIỆN XẢ LŨ GÂY THIỆT HẠI NHIỀU NƠI, AI PHẢI CHỊU TRÁCH NHIỆM?
Ngày 11 tháng 11 năm 2025, thủy điện Sông Ba Hạ đã vận hành xả lũ với lưu lượng lên tới hơn 16.000 m3/giây, gây ngập úng diện rộng tại các khu vực hạ du. Đặc biệt, từ đêm 20.11 đến chiều 22.11, công ty thủy điện Đồng Nai 5 – TKV đã xả tràn làm mực nước sông Dồng Nai dâng cao đột biến, khiến các hộ dân tại xã Đak Lua không kịp trở tay. Ước tính thiệt hại ban đầu của người dân khoảng 40 tỷ đồng. Bà Nguyễn Thanh Hiền, Chủ tịch UBND xã Đak Lua, cho biết không nhận được cảnh báo chính thức từ phía thủy điện, trong khi tốc độ nước lên quá nhanh khiến công tác chuẩn bị ứng phó của địa phương bị động. Trong khi đó, ông Trần Thanh Hải, Phó giám đốc thủy điện Đồng Nai 5 – TKV, phản bác, nói rằng chính quyền xã phản ánh không nhận được thông báo chính thức, khiến trách nhiệm truyền đạt thông tin nội bộ bị đặt dấu hỏi.
THEO PHÁP LUẬT, AI PHẢI CHỊU TRÁCH NHIỆM?
Luật sư Hà Hải, Phó chủ nhiệm Đoàn luật sư TP.HCM, nhận định, hoạt động xả lũ của các hồ thủy điện cần tuân thủ chặt chẽ các quy định của pháp luật về quản lý, vận hành đập thủy điện và phòng ngừa ứng phó thiên tai. Theo Nghị định 114/2018 của Chính phủ, chủ sở hữu đập có trách nhiệm lập và cập nhật phương án ứng phó khẩn cấp, dựa trên tính toán kỹ thuật chính xác và đảm bảo an toàn. Chủ sở hữu đập phải đánh giá tác động của mỗi lưu lượng xả lũ đối với khu vực hạ du để tránh gây thiệt hại không đáng có.
Chủ sở hữu đập còn có nghĩa vụ đền bù thiệt hại cho người dân khi xả lũ không đúng quy trình. Trong trường hợp thiệt hại xảy ra do vi phạm pháp luật, người dân hoàn toàn có thể yêu cầu bồi thường vật chất lẫn tinh thần theo quy định của Bộ luật Dân sự, đồng thời có thể nhờ Viện kiểm sát đại diện khởi kiện theo Nghị quyết số 205/2025 của Quốc hội có hiệu lực từ ngày 1.1.2026.
Có thể kiện ai, khi nào và bồi thường ra sao?
Theo các ý kiến pháp lý, nếu chủ sở hữu đập không thực hiện đúng quy trình vận hành, không cảnh báo hoặc không sơ tán theo phương án đã được phê duyệt, dẫn đến thiệt hại cho người dân, họ sẽ chịu trách nhiệm dân sự và có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự về các tội danh như thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng hoặc gây thiệt hại đến tài sản của Nhà nước, tổ chức, doanh nghiệp. Nếu thiệt hại xảy ra do bất khả kháng như mưa lũ vượt mức dự báo, đúng quy trình vận hành và đã có cảnh báo mà vẫn xảy ra thiệt hại, trách nhiệm có thể không thuộc về chủ sở hữu thủy điện.
Khi nào người gây thiệt hại bị xử lý hình sự?
Theo luật sư Nguyễn Thị Kim Vinh, người dân cần thu thập chứng cứ như hình ảnh, video và các tài liệu liên quan để chứng minh thiệt hại của mình. Nếu thiệt hại nghiêm trọng, chủ thể gây ra hậu quả có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự về các tội phạm như thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng hoặc gây thiệt hại tài sản nhà nước. Những trường hợp này, người vi phạm có thể bị phạt tù từ 10 đến 12 năm nếu thiệt hại lớn, đặc biệt nếu gây thiệt hại về tính mạng, tài sản, họ có thể đối mặt với các cáo buộc hình sự nặng hơn.
NGƯỜI VI PHẠM CÓ NÊN BỊ XỬ LÝ HÌNH SỰ?
Trong các phân tích, luật sư khuyên người dân cần thu thập chứng cứ rõ ràng để xác định trách nhiệm của các tổ chức, cá nhân liên quan. Chủ sở hữu thủy điện hoặc người quản lý nếu vi phạm quy trình vận hành, không thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ cảnh báo, sơ tán, sẽ phải chịu trách nhiệm dân sự hoặc hình sự theo quy định của pháp luật. Đặc biệt, nếu thiệt hại phát sinh do hành vi trái pháp luật của cán bộ, người thi hành công vụ thì Nhà nước có thể phải bồi thường.
Trong các trường hợp bất khả kháng, xảy ra do thiên tai vượt tầm kiểm soát, các bên không phải hoàn toàn chịu trách nhiệm bồi thường, mà sẽ được hỗ trợ theo quy định của luật Phòng chống thiên tai, ngân sách nhà nước và các quỹ phòng chống thiên tai. Tuy nhiên, việc vận hành sai quy trình hoặc thiếu cảnh báo rõ ràng có thể khiến các tổ chức có trách nhiệm phải đền bù thiệt hại cho người dân, đồng thời còn có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự nếu gây hậu quả nghiêm trọng.