KHI NGỮ VĂN CHUYỂN HƯỚNG ĐÁNH GIÁ NĂNG LỰC: BỨC TRANH ĐA CHIỀU VỀ CHẤT LƯỢNG VÀ PHÁT TRIỂN
MẶT BẰNG CHUNG: TĂNG NHƯNG CHƯA VỮNG
Điểm trung bình môn ngữ văn toàn quốc liên tục tăng từ 6,47 năm 2021 lên 7,23 vào năm 2024, rồi giảm nhẹ còn 7,0 năm 2025. Xu hướng này thể hiện sự thích ứng ngày càng tốt của học sinh với cấu trúc đề thi, đặc biệt là phần đọc hiểu và nghị luận xã hội. Tuy nhiên, sự dao động qua các năm cho thấy chất lượng dạy học môn này vẫn chưa thật sự bền vững, phần lớn phụ thuộc vào cách ra đề và kỹ thuật làm bài, chứ chưa hẳn là năng lực thực chất của học sinh.
Sự thay đổi về đề thi năm 2025, với phần đọc hiểu tăng lên 4 điểm và phần nghị luận giảm còn 6 điểm, sử dụng dữ liệu ngoài sách giáo khoa và hướng mở, đã tạo ra biến động lớn trong thứ hạng các địa phương so với năm trước. Một số địa phương như Quảng Trị, TP.HCM hay Bến Tre đã tăng hạng đáng kể, còn nhiều nơi khác lại giảm mạnh, như Ninh Bình, Bắc Ninh hay Hòa Bình. Điều này cho thấy sự phân hóa rõ rệt đang diễn ra, đặt ra yêu cầu đổi mới cách dạy và học nhằm phát triển năng lực thực chất phù hợp với chương trình giáo dục mới.
NHÓM DẪN ĐẦU: NỀN TẢNG VỮNG CHẮC XÂY DỰNG THỨ HẠNG
15 địa phương nằm trong nhóm dẫn đầu đều có truyền thống dạy và học văn lâu dài, đội ngũ giáo viên ổn định, học sinh được rèn luyện kỹ năng viết và lập luận bài bản. Các địa phương như Nghệ An, Hải Phòng, Hà Nội thể hiện rõ nét điều này qua kết quả cao và sự ổn định trong kết quả kiểm tra.
Nghệ An, với điểm trung bình trên 8,0 trong hai năm liên tiếp, là minh chứng rõ ràng cho sức mạnh của nền tảng dạy học vững chắc. Hải Phòng giữ vững vị trí cao, mặc dù có lúc tụt hạng vào năm 2023. Các tỉnh như Bạc Liêu, An Giang vẫn duy trì truyền thống đào tạo văn học tốt, phản ánh rõ vai trò của lực lượng giáo viên và môi trường học tập ổn định.
NHÓM ĐỊA PHƯƠNG CÓ ĐIỂM BÌNH QUÂN TỪ 6,5 ĐẾN DƯỚI 7,0
Hầu hết các tỉnh thành trong nhóm này đều có điểm trung bình khá, từ 6,5 đến dưới 7,0, phản ánh một thực trạng đa dạng trong năng lực và mức độ thích ứng. Vùng đồng bằng sông Cửu Long, Đông Nam bộ ghi nhận nhiều địa phương vươn lên rõ rệt trong giai đoạn 2023 – 2025, tiêu biểu như Sóc Trăng, Trà Vinh, Cần Thơ. Riêng TP.HCM, dù điểm trung bình thấp hơn các vùng khác trong giai đoạn trước, nhưng đã phục hồi mạnh mẽ vào năm 2025, thể hiện xu hướng tăng trưởng tích cực.
Các tỉnh trung du, miền núi như Thái Nguyên, Tuyên Quang hay Hòa Bình đều có điểm số đạt trung bình khá, tuy nhiên thứ hạng biến động mạnh phản ánh lực lượng dạy học còn chưa đồng đều, thử thách lớn cho nỗ lực nâng cao chất lượng. Nhìn chung, đây là vùng đan xen giữa các mức điểm, thể hiện sự chuyển tiếp về năng lực và phương pháp đào tạo.
NHÓM DƯỚI 6,5 ĐIỂM: KHÓ KHĂN VÀ ỨNG XU HƯỚNG
Gần một phần ba các địa phương (chiếm 31,8%) rơi vào nhóm có điểm trung bình dưới 6,5, đa phần tập trung ở miền núi phía Bắc, Tây Nguyên và một số nơi miền Trung. Những nơi này thường gặp khó khăn về năng lực tiếng Việt học thuật, thiếu môi trường đọc viết và điều kiện dạy học tốt. Nhiều tỉnh như Hà Giang, Lai Châu, Sơn La, Cao Bằng vẫn chưa thể vượt qua các thử thách này, chủ yếu do hạn chế về kinh tế, giáo viên chưa đủ chất lượng hoặc thiếu đầu tư dài hạn.
Tuy nhiên, sự xuất hiện của các đô thị như Đà Nẵng, Đồng Nai trong nhóm này cho thấy môn ngữ văn không chỉ thuộc về các vùng khó khăn mà còn gặp phải thách thức từ chính cách tổ chức dạy và chấm thi vẫn còn bảo thủ và thiếu đổi mới.
Chất lượng thực chất: yếu tố then chốt quyết định thành công
Theo định hướng của Bộ Giáo dục và Đào tạo, việc sử dụng dữ liệu ngoài sách giáo khoa, đề thi mở nhằm nâng cao năng lực đọc hiểu, tư duy và lập luận của học sinh là một bước tiến quan trọng. Tuy nhiên, thực tế cho thấy mức độ thích ứng còn chênh lệch lớn giữa các địa phương. Những địa phương duy trì được việc rèn luyện năng lực bền vững, dựa trên nền tảng vững vàng và phương pháp dạy học mở, đều đạt kết quả ổn định qua các năm.
Chất lượng thực chất, chứ không phải chỉ dựa vào điểm số, mới là yếu tố quyết định thành tích lâu dài. Sự phát triển kinh tế không đồng nghĩa với thành tích môn ngữ văn cao, nếu không đặt trọng tâm vào việc nâng cao nhận thức và phương pháp dạy học phù hợp. Đề thi mở cần đi liền với dạy học mở và chấm thi sáng tạo để tạo ra sân chơi đúng nghĩa nhằm thúc đẩy khả năng tư duy, sáng tạo của học sinh, thay vì tiếp tục duy trì lối học tủ và kiểm tra mang tính đối phó.