LỰA CHỌN GIỮA KỲ THI “2 TRONG 1” VÀ TÍCH HỢP CHẤT LƯỢNG GIÁO DỤC
Hơn 25 năm đổi mới thi tốt nghiệp THPT và tuyển sinh đại học: Tìm lời giải bài toán liêm chính
Hơn 25 năm qua, hệ thống thi cử Việt Nam đã trải qua nhiều bước tiến quan trọng. Hiện nay, kỳ thi tốt nghiệp THPT tổ chức theo hình thức “2 trong 1” đang là chủ đề tranh luận gay gắt, đặt ra câu hỏi liệu chúng ta có đang đi đúng hướng hay cần xem xét tách riêng để phù hợp hơn với bối cảnh tự chủ giáo dục ngày càng mở rộng.
TỪ HAI KỲ THI ĐỘC LẬP ĐẾN CHUỖI KỲ THI “3 CHUNG”
Trước năm 2002, học sinh phải tham dự hai kỳ thi riêng biệt: tốt nghiệp THPT và tuyển sinh ĐH. Mỗi trường tự tổ chức thi, đề thi, chấm thi và xét tuyển, gây ra nhiều bất cập như di chuyển nhiều nơi, chi phí cao và áp lực lớn cho thí sinh cũng như hệ thống tổ chức. Hàng trăm nghìn học sinh đổ về Hà Nội, TP.HCM và các thành phố lớn mỗi mùa tuyển sinh.
Năm 2002, Bộ GD-ĐT triển khai mô hình “3 chung”: chung đề thi, đợt thi và kết quả xét tuyển để giảm bớt gánh nặng và chi phí xã hội. Dù đã giúp ổn định hệ thống trong 13 năm, mô hình này bắt đầu lộ rõ những hạn chế khi luyện thi gia tăng và lực lượng “lò luyện” phát triển mạnh, gây áp lực ngày càng lớn cho các trường ĐH.
Năm 2014, Bộ tiến thêm một bước với đổi mới kỳ thi tốt nghiệp theo hướng giảm môn thi còn 4 môn, gồm toán, ngữ văn, hai môn tự chọn. Tuy nhiên, do quá ít thí sinh chọn các môn như ngoại ngữ, lịch sử, nên phương án này chỉ áp dụng trong một năm rồi dừng lại.
TỪ CHÍNH SÁCH TUYỂN THẲNG ĐẾN CẢI CÁCH ĐÁNH GIÁ
Từ năm 1998, chính sách tuyển thẳng vào ĐH dành cho học sinh loại giỏi nhằm khuyến khích học toàn diện và giảm áp lực thi cử. Tuy nhiên, do chưa kiểm soát chặt chẽ, chính sách bị lợi dụng, dẫn đến tăng nhanh số thí sinh hưởng ưu tiên, thậm chí tuyển thẳng không đúng tiêu chuẩn. Năm 2007, chế độ tuyển thẳng bị bãi bỏ, thay bằng cộng điểm, để đảm bảo công bằng và minh bạch hơn.
KỲ THI “2 TRONG 1”: GIẢM ÁP LỰC, TĂNG TRÁCH NHIỆM
Năm 2015, Bộ GD-ĐT giới thiệu kỳ thi tốt nghiệp THPT “2 trong 1” với hai mục tiêu: công nhận tốt nghiệp và làm căn cứ tuyển sinh ĐH. Kỳ thi này gồm 5 môn, trong đó có ba môn bắt buộc (toán, ngữ văn, ngoại ngữ) và hai môn tự chọn. Các trường ĐH lớn chủ trì tổ chức coi thi và chấm thi, trong khi địa phương tổ chức phần thi của thí sinh chỉ xét tốt nghiệp.
Lần đầu tiên, thí sinh không phải đăng ký nguyện vọng trước khi thi mà có thể lựa chọn sau khi có điểm, giảm thiểu di chuyển và chi phí. Từ 2017, kỳ thi tiếp tục được tinh gọn hơn nữa, với ba môn bắt buộc cộng thêm bài thi tổ hợp phù hợp hướng nghề nghiệp, phần lớn chuyển sang hình thức trắc nghiệm để nâng cao tính khách quan, minh bạch.
Tuy nhiên, cùng với những lợi ích, kỳ thi này cũng đặt ra nhiều trách nhiệm lớn hơn về độ chính xác và công bằng, đặc biệt khi yêu cầu kiểm soát gian lận ngày càng cao.
NHỮNG VỤ GIAN LẬN VÀ BÀI HỌC QUẢN TRỊ
Trong hơn 25 năm, các vụ gian lận thi cử liên tiếp xảy ra, phản ánh những khoảng trống trong quản trị rủi ro. Năm 2006, vụ gian lận tại Hà Tây đã dẫn đến phong trào “Hai không” chống tiêu cực và bệnh thành tích trong giáo dục. Năm 2012, vụ gian lận tại Đồi Ngô gây chấn động, giám thị để thí sinh quay cóp và cung cấp lời giải trong phòng thi.
Năm 2018, hàng trăm bài thi bị sửa điểm tại Hà Giang, Sơn La, Hòa Bình, gây hậu quả nghiêm trọng trong việc tuyển sinh công an, quân đội, y dược. Đến năm 2026, vụ việc tại Trường THPT chuyên Tuyên Quang với hàng chục điểm 10 môn toán tiếp tục giói nhiên tình trạng gian lận chưa dứt.
Đây là bài học lớn về việc không chỉ xử lý hậu quả mà còn phải nâng cao năng lực dự báo và quản trị rủi ro từ giai đoạn thiết kế chính sách. Các quy trình tổ chức thi cần nhiều tầng giám sát, trách nhiệm rõ ràng và dữ liệu phân tích để phát hiện bất thường, từ đó nâng cao độ tin cậy của hệ thống.
TRIẾT LÝ VÀ YÊU CẦU KIỂM SOÁT CHẶT CHẼ
Trong bối cảnh chuyển đổi số, kiểm soát chặt chẽ càng trở nên cấp thiết. Các dữ liệu thi cử, các phương pháp phân tích bằng công nghệ, cùng hệ thống giám sát nhiều tầng giúp phát hiện sớm các bất thường, chống gian lận một cách hiệu quả hơn. Chính sách cần được thiết kế đồng bộ, kết hợp các biện pháp kiểm soát để hạn chế lợi dụng.
LIÊM CHÍNH VÀ CÔNG BẰNG – NỀN TẢNG CỦA MỌI ĐỔI MỚI
Niềm tin xã hội không chỉ dựa vào chính sách đúng đắn mà còn từ khả năng bảo vệ, giám sát sát sao. Những thất bại trong gian lận thể hiện rõ yêu cầu về tính liêm chính trong mọi hoạt động. Dù duy trì tổ chức kỳ thi hay tách riêng, mục tiêu tối quan trọng là xây dựng một hệ thống đánh giá trung thực, minh bạch, công khai dữ liệu, mỗi điểm số phản ánh đúng năng lực, mỗi cơ hội vào đại học đều dựa trên nguyên tắc công bằng.