NHU CẦU ĐỊNH VỊ CHIẾN LƯỢC CHO TP.HCM TRONG HƯỚNG TỚI TƯƠNG LAI 100 NĂM
Đặt đề bài cho quy hoạch tầm nhìn dài hạn của TP.HCM, Chủ tịch HĐND Võ Văn Minh nhấn mạnh tầm quan trọng của việc xây dựng và triển khai một kế hoạch tổng thể nhằm xác định các chiến lược phát triển đột phá, tái cấu trúc không gian đô thị và phân bố chức năng hợp lý. Mục tiêu là tối ưu hóa nguồn lực, đồng thời tránh mâu thuẫn nội vùng, tạo động lực thúc đẩy sự phát triển bền vững.
TP.HCM hướng tới mục tiêu đến năm 2050 trở thành đô thị nằm trong nhóm 100 thành phố có chất lượng sống tốt nhất thế giới, mở ra một tầm nhìn dài hạn đầy tham vọng.
Theo PGS-TS Trần Hoàng Ngân, để quy hoạch 100 năm khả thi, TP cần phân loại rõ ràng các trụ cột chiến lược, nhằm phát huy tối đa các lợi thế hiện có. Động lực chủ chốt bắt đầu từ ngành công nghiệp, đặc biệt là ngành công nghiệp công nghệ cao, hiện chiếm khoảng 35% GRDP của TP. Khu vực sở hữu hàng trăm khu công nghiệp trải dài từ Bình Dương, Thủ Đức tới Phú Mỹ (Bà Rịa-Vũng Tàu) là nguồn lực tiềm năng để đột phá hơn nữa, nhất là trong việc ứng dụng công nghệ tiên tiến, hiện đại.
Thứ hai là ngành dịch vụ thương mại và bán lẻ, chiếm khoảng 15% GRDP, vẫn là lợi thế lớn của TP.HCM. Thứ ba là trung tâm logistics, nơi sở hữu nhiều cảng biển, cảng nước sâu như Thị Vải – Cái Mép, Cảng Cát Lái và dự án Cảng trung chuyển quốc tế Cần Giờ sắp đi vào hoạt động. Đây là yếu tố quyết định cạnh tranh với các trung tâm logistics lớn như Singapore, Hồng Kông. Khi các cụm cảng này được đầu tư, nâng cấp, TP.HCM có thể trở thành trung tâm logistics trọng điểm của khu vực, đóng góp nhiều hơn vào GRDP.
Tiếp theo là lĩnh vực tài chính với trung tâm tài chính quốc tế đã hình thành, cùng các công ty chứng khoán, ngân hàng thương mại và sở giao dịch chứng khoán. Các dịch vụ này mang lại động lực tăng trưởng khoảng 10%, và khi nâng cấp thêm, có thể đóng góp tới 20% GRDP.
Ngoài ra, TP.HCM còn là nơi hội tụ của các trường đại học, bệnh viện, nguồn tri thức của thế giới. Đây là cơ sở để phát triển các dịch vụ chất lượng cao trong y tế, giáo dục, truyền thông, bất động sản, khoa học công nghệ và đổi mới sáng tạo. Các ngành này hiện đóng góp khoảng 4% mỗi ngành vào GRDP, chung lại tạo ra tới 20% toàn bộ giá trị kinh tế của TP.
Theo PGS-TS Trần Hoàng Ngân, tất cả các động lực này đều là “động cơ phản lực” cực mạnh giúp thúc đẩy tăng trưởng nhanh chóng. Khi áp dụng chuyển đổi số, đổi mới sáng tạo và trí tuệ nhân tạo, TP.HCM hoàn toàn có khả năng duy trì tốc độ tăng trưởng trên 10% mỗi năm, đóng góp vào khoảng 1/4 tốc độ phát triển chung của toàn quốc.
TẠO ĐẶC ĐỊNH VỊ CHIẾN LƯỢC VÀ THỂ CHẾ PHÙ HỢP
TS Nguyễn Văn Điển, trưởng khoa Kinh tế chính trị Học viện Chính trị khu vực II, nhấn mạnh rằng để hiện thực hóa tầm nhìn 100 năm, TP.HCM cần xác định rõ ba hướng chiến lược lớn. Trước tiên, xây dựng thành một siêu đô thị đa trung tâm, gắn liền đổi mới sáng tạo và phát huy nguồn nhân lực chất lượng cao. Thúc đẩy môi trường đổi mới sáng tạo sẽ thu hút các tập đoàn lớn, các doanh nghiệp công nghệ hàng đầu, tạo ra các công nghệ về chế biến, chế tạo và số hóa.
Thứ hai, TP cần định vị thành đô thị gắn liền với các mô hình kinh tế tuần hoàn, kinh tế biển và kinh tế số, để ứng phó với biến đổi khí hậu và những khó khăn về năng lượng. Chuyển dịch sang mô hình này không chỉ tạo đột phá cho phát triển mà còn thúc đẩy tăng trưởng hai con số khi kết hợp giữa kinh tế biển và số hóa, mở rộng các dịch vụ như nghỉ dưỡng, thể thao biển, du lịch chữa lành và giải trí ngoài biển.
Thứ ba, TP phải định vị như một trung tâm dẫn dắt vùng Nam bộ, kết nối các tỉnh, huy động nguồn lực vùng để tạo ra một trung tâm sinh thái bền vững, trung hòa carbon, an toàn khí hậu, hỗ trợ phát triển kinh tế toàn vùng. Các quỹ phát triển vùng và cơ chế liên kết vùng sẽ giúp nâng cao vị thế của TP.HCM trong khu vực.
Tổng thể, dựa trên sáu trụ cột chiến lược, TP cần xây dựng năm không gian chiến lược. Lõi trung tâm toàn cầu gồm khu vực Quận 1, Thủ Thiêm và một phần Thủ Đức, là trung tâm tài chính, đổi mới sáng tạo, giáo dục và y tế chất lượng cao. Vành đai công nghiệp – sản xuất thông minh nằm tại Bình Dương và khu vực Bắc Thủ Đức, tập trung vào công nghệ cao, logistics và chuỗi cung ứng.
Vành đai cảng biển, kinh tế biển gồm các cảng quốc tế ven biển phía Đông Nam, đóng vai trò trung tâm logistics và du lịch cao cấp. Vùng sinh thái dự trữ môi trường như Cần Giờ cùng các khu vực đất thấp sẽ giữ vai trò điều tiết, hấp thụ carbon và bảo vệ sinh thái. Cuối cùng là chuỗi đô thị vệ tinh nhằm giảm tải cho trung tâm, tạo ra các khu đô thị có khả năng cung ứng dịch vụ, việc làm gần nơi cư trú để phát triển cân đối.
Giao thông công cộng và hạ tầng số cũng đóng vai trò then chốt, với các tuyến metro, đường sắt đô thị, hệ thống BRT và phát triển mạng lưới kết nối đa phương thức. Trong vòng 100 năm, quy hoạch được chia thành các giai đoạn rõ ràng, từ hợp nhất dữ liệu, xây dựng hạ tầng chính, đến đô thị trung hòa carbon và cập nhật công nghệ mới, tất cả đều theo mô hình quy hoạch linh hoạt, có thể điều chỉnh mỗi 5 đến 10 năm để phù hợp với chuyển biến của thực tiễn.
TS Phạm Viết Thuận, Viện trưởng Viện Kinh tế tài nguyên và môi trường TP.HCM khẳng định rằng, tầm nhìn xa như vậy đòi hỏi sự linh hoạt và định hướng rõ ràng, nhằm hướng tới một TP.HCM ngày càng năng động, thích ứng tốt với các thách thức của thời đại mới.