BẢO VỆ NGƯỜI BỆNH VÀ NGƯỜI LAO ĐỘNG TRONG NGHỀ NUÔI BỆNH: CẦN NGHĨ LẠI CHÍNH SÁCH ĐÀO TẠO VÀ QUẢN LÝ
Thực tế tại nhiều trung tâm đào tạo nghề nuôi bệnh hiện nay cho thấy người học chỉ được trang bị kiến thức trong thời gian rất ngắn trước khi bắt đầu công việc. Phương pháp đào tạo theo kiểu “cưỡi ngựa xem hoa” này khiến nhiều người lo ngại về chất lượng nguồn nhân lực trong ngành chăm sóc người bệnh.
KHÔNG ĐƠN THUẦN “TRÔNG COI NGƯỜI BỆNH”
Anh T., 40 tuổi, một học viên tại trung tâm cung ứng người nuôi bệnh ở TP.HCM, chia sẻ về quãng thời gian học nghề quá ngắn: khóa học kéo dài chưa đầy 40 giờ, dồn dập từ sáng tới chiều với lượng kiến thức rộng lớn nhưng thời gian quá hạn hẹp khiến nhiều người chưa thể nhớ hết mặt tên, và phần lớn chỉ nắm được khoảng 40-50% kiến thức sau khóa học. “Nhớ được khái niệm là mừng rồi, chứ để làm quen tay thì chưa”, anh T. nói.
Chương trình học tập trung chủ yếu vào lý thuyết, còn thực hành ít ỏi. Phần lớn học viên, đa phần trong độ tuổi từ 40 đến 65, bắt đầu làm nghề khi đã biết đọc, biết viết và hoặc mới chỉ tiếp cận các kỹ năng cơ bản. Điều này khiến họ cảm thấy choáng ngợp trước những khái niệm sơ cấp cứu, theo dõi dấu hiệu sinh tồn, chăm sóc người bệnh mở khí quản, mang hậu môn nhân tạo hay thở oxy.
Sau khóa học, phần lớn người học lớn tuổi chỉ nắm được phần nhỏ kiến thức, phần còn lại phải trông chờ vào quá trình “đi ca” thực tế để học hỏi kinh nghiệm. “Ra đi ca rồi mới học thêm”, anh T. chia sẻ về cách làm việc phổ biến.
THEO CHUYÊN GIA, ĐÀO TẠO CHƯA ĐÁP ỨNG YÊU CẦU CƠ BẢN
Ông Trần Anh Tuấn, Phó chủ tịch Hội Giáo dục nghề nghiệp TP.HCM, cho biết tổng thời lượng đào tạo khoảng 40 giờ là không đủ để hình thành một chăm sóc viên chuyên nghiệp. Ông nhấn mạnh nghề nuôi bệnh không đơn thuần “trông coi người bệnh” mà là một dịch vụ có yếu tố chuyên môn, liên quan đến an toàn người bệnh, tâm lý, khả năng phối hợp với nhân viên y tế.
“Thời gian đào tạo quá ngắn dẫn đến chương trình thiên về lý thuyết, thiếu thực hành tình huống. Người học không đủ thời gian hình thành kỹ năng phản xạ nghề nghiệp, ý thức trách nhiệm khi chăm sóc người bệnh”, ông Tuấn phân tích.
Ông đề xuất nâng thời lượng đào tạo lên 150-300 giờ theo chuẩn kỹ năng quốc gia để nâng cao chất lượng, đảm bảo an toàn và giảm gánh nặng cho ngành y tế trong bối cảnh dân số già đi.
Ngoài ra, ông cũng chỉ ra việc nhiều cơ sở chưa có quy định rõ ràng về chuẩn đầu vào, chỉ yêu cầu học viên biết đọc biết viết, điều này gây lo ngại về chất lượng nhân lực. Ông khuyên nên quy định trình độ tối thiểu phù hợp, có trình độ trung học cơ sở hoặc tương đương, có ý thức đạo đức nghề nghiệp rõ ràng và sức khỏe tốt.
Việc đặt ra chuẩn đầu vào cao hơn và kiểm tra nghiêm ngặt ban đầu sẽ giúp nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, mặc dù có thể giảm số lượng người học ban đầu, nhưng là bước cần thiết để nghề nuôi bệnh được xã hội công nhận chính thức.
CHUẨN HÓA NGHỀ NUÔI BỆNH – ĐIỀU KIỆN TẤT YẾU
Ông Nguyễn Khắc Tuấn, Trưởng phòng Công tác xã hội Bệnh viện Nguyễn Trãi, nhận định: nếu lực lượng nuôi bệnh được đào tạo bài bản và quản lý nghiêm ngặt, họ sẽ trở thành “cánh tay đắc lực” hỗ trợ điều dưỡng, giảm tải công việc đồng thời nâng cao an toàn và hài lòng của người bệnh.
“Chúng ta cần điều chỉnh bộ tiêu chí đánh giá chất lượng bệnh viện, bổ sung tiêu chí liên quan đến hoạt động nuôi bệnh chuyên nghiệp. Khi trở thành phần trong hệ thống tiêu chuẩn chính thức, việc quản lý người nuôi bệnh không chỉ dừng ở quan hệ dịch vụ mà còn liên quan đến an toàn, trật tự và quản lý môi trường điều trị”, ông Tuấn đề xuất.
Tuy nhiên, ông cũng nhận định việc chính thức hóa nghề nuôi bệnh cần có lộ trình phù hợp, dựa trên các chuẩn mực rõ ràng. Hiện chưa có bộ tiêu chuẩn nghề quốc gia, chưa xác định rõ ai đủ điều kiện hành nghề, đào tạo trong bao lâu, nội dung đào tạo gồm những gì hay quy trình kiểm tra, cấp chứng chỉ.
Các bất cập lớn nhất hiện nay nằm ở mô hình quản lý. Một số đề xuất gồm đưa lực lượng nuôi bệnh vào hệ thống y tế, chịu đào tạo, giám sát và đánh giá chặt chẽ nhằm đảm bảo an toàn tối đa cho người bệnh. Song song đó, vẫn có thể duy trì mô hình lao động giúp việc gia đình linh hoạt hơn, nhưng đi kèm rủi ro cao hơn về chất lượng chăm sóc và an toàn y khoa.
“Tiếp tục vận hành theo hình thức tự do trong môi trường bệnh viện, nghề nuôi bệnh sẽ đối diện nguy cơ về y khoa và pháp lý ngày càng lớn”, ông Tuấn cảnh báo.
PHÁP LUẬT VÀ RỦI RO VỀ PHAP LÝ
Luật sư Lê Trung Phát, Giám đốc Hãng luật Lê Trung Phát, phân tích rủi ro lớn nhất hiện tại là thiếu cơ chế pháp lý rõ ràng bảo vệ người nuôi bệnh. Không thuộc nhóm hành nghề y tế, họ bị bỏ ngoài phạm vi điều chỉnh của luật Khám bệnh, chữa bệnh.
Do chủ yếu làm việc dựa trên thỏa thuận dân sự với gia đình người bệnh, lực lượng này khó áp dụng các quy định của luật lao động như hợp đồng, bảo hiểm xã hội hay bảo hiểm tai nạn nghề nghiệp. Trong khi đó, họ thường xuyên làm việc trong môi trường có nguy cơ lây nhiễm cao, dễ gặp nạn trong quá trình chăm sóc. Khi có tranh chấp về tiền công hay sự cố liên quan đến người bệnh, họ gần như không có cơ sở pháp lý rõ ràng để tự bảo vệ rights của mình.
Theo luật sư Phát, để khắc phục vấn đề này, cần ban hành văn bản pháp luật công nhận nghề nuôi bệnh là nghề chính thức, có chứng chỉ hành nghề hợp quy chuẩn. Những bệnh lý yêu cầu chăm sóc đặc thù chỉ những người có chứng chỉ phù hợp mới được hành nghề, còn người nhà tự chăm sóc cần quy định rõ ràng để tránh rủi ro.
Khi nghề nuôi bệnh chính thức, người lao động sẽ có cơ sở ký hợp đồng lao động, tham gia bảo hiểm xã hội, y tế, có lộ trình nghề nghiệp rõ ràng và được đào tạo bài bản. Đây là bước tiến quan trọng để bảo vệ quyền lợi nhóm lao động dễ bị tổn thương, đồng thời nâng cao chất lượng dịch vụ chăm sóc người bệnh và an toàn cộng đồng.