HÀNH TRÌNH ĐẲNG CẤP CHA ĐẲNG CỦA BẾP KHÔNG KHÓI VÀ NGƯỜI LÍNH TRUNG THÀNH
Ngày cuối tháng 5, chúng tôi có cơ hội gặp ông Hoàng Thư, con trai cả của cụ Hoàng Cầm, người sáng chế ra bếp không khói huyền thoại của Quân đội nhân dân Việt Nam. Trong căn nhà nhỏ tại phố Điện Biên Phủ, Hà Nội, ông Thư đã trân trọng gìn giữ từng bức ảnh đã phai màu theo thời gian của người cha quá cố.
Ở tuổi 82, ông vẫn minh mẫn, nhớ rõ mọi ký ức về người cha cần mẫn, ít nói về bản thân nhưng luôn đặt lợi ích của quân đội và nhân dân lên trên hết. Cuộc đời của cụ Hoàng Cầm được khắc họa qua những nét chân thực về hành trình gian khổ, sự tận tâm và lòng trung thành với lý tưởng cách mạng.
Khi chúng tôi hỏi về cuộc đời của cha đẻ chiếc bếp đặc biệt này, ông Thư chỉ gói ghém trong hai chữ: Tận tụy. Đặc biệt, dù nhận được đề nghị truy tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân, ông Thư cho biết cảm xúc tự hào không thể sánh bằng lòng kính trọng và tự hào về nhân cách sống của cha.
Ngược dòng thời gian, ông kể rằng, cụ Hoàng Cầm nhập ngũ năm 1947, là tổ trưởng nuôi quân. Trong chiến dịch Hoàng Hoa Thám, tận mắt chứng kiến cảnh đồng đội vướng vũng máu do máy bay địch, cụ nảy ra ý tưởng tạo ra loại bếp giúp các chiến sĩ nấu nướng ban ngày mà không lo bị phát hiện bởi khói thoát ra ít hơn nhiều so với các loại bếp truyền thống. Một buổi sáng, trên bờ suối, cụ đã mày mò chế tạo chiếc bếp đầu tiên, sử dụng những đường rãnh dài, phủ bằng cành cây và đất ẩm để lọc khói.
Cái hay của chiếc bếp này chính là khả năng làm giảm khả năng phát hiện của máy bay địch, giúp bộ đội nấu nướng an toàn hơn trong thời chiến tranh ác liệt. Tháng 10.1952, tên của cụ Hoàng Cầm được lấy làm tên gọi chính thức cho loại bếp này, góp phần nâng cao hiệu quả chiến đấu của quân đội. Thành tích của cụ đã được tặng thưởng Huân chương Chiến công hạng nhì, đồng thời được báo cáo trực tiếp với Bác Hồ tại Đại hội Anh hùng, chiến sĩ thi đua toàn quốc.
Sau chiến tranh, cuộc đời của cụ nhiều lần thử thách. Từ dịp hoạt động trong quân ngũ đến khi lập gia đình, cụ vẫn không quên mảnh đất quê hương. Về Hà Nội làm việc tại cửa hàng kem Thủy Tạ, rồi quyết định lên Tam Đảo khai hoang, vượt qua cảnh khắc nghiệt để trồng trọt, chăn nuôi. Ông Thư nhớ rõ những chuyến xe thồ su su xuống núi, những ngày tháng vất vả, gian nan của cha để đảm bảo cuộc sống.
Cụ Hoàng Cầm luôn trăn trở giúp người dân địa phương thoát khỏi đói nghèo. Ông đã tự tay đưa giống cây trồng từ Nam Định lên Tam Đảo, giới thiệu nghề làm miến dong, học cách nấu xì dầu để truyền dạy cho bà con. Trong những năm 1970-1972, để giúp cộng đồng, cụ đã cùng anh trai sản xuất que kem từ cây tre sặt, giúp đỡ hàng chục hộ dân vượt qua những tháng ngày khó khăn. Dù giúp đỡ mọi người nhiệt tình, cụ không bao giờ giữ lại bất kỳ đặc quyền nào, luôn sống giản dị, khiêm tốn.
Ông Thư kể rằng, cả cuộc đời của cụ Hoàng Cầm gắn bó với lời dạy của Bác Hồ, đó là sống tiết kiệm, sống giản dị, không đòi hỏi sự khen thưởng. Trong ký ức của ông, một kỷ vật thiêng liêng là chiếc đồng hồ do Bác Hồ tặng, khi ông chuẩn bị lên đường vào Nam chiến đấu năm 1967. Trước khi đi, cụ dặn ông giữ gìn, để nhớ về sự cố gắng của gia đình và công lao của cha.
Trong chiến tranh, ông Thư đã tặng chiếc đồng hồ cho các chiến sĩ giao liên để giúp họ canh giờ, hỗ trợ đưa bộ đội qua những chiến trường ác liệt. Sau này, khi trở về, ông luôn mong tìm lại người chiến sĩ đó nhưng chưa có kết quả. Đến khi sức khỏe của cụ yếu dần, ông quyết định đưa cụ về Hà Nội chăm sóc. Tại căn phòng nhỏ, với điều kiện khó khăn, cụ đã sống những tháng cuối đời trong cảnh thiếu thốn, nhưng vẫn giữ trọn tấm lòng trung thành với lý tưởng.
Chỉ đến khi đại tá Nguyễn Kim Đức tìm đến thăm và can thiệp, cụ mới được cấp nhà ở hợp pháp, khắc phục phần nào cảnh đời nghèo khổ kéo dài nhiều năm. Ông Thư chia sẻ, cụ Hoàng Cầm sống giản dị, không cầu danh lợi, sống theo tấm gương của Bác Hồ, luôn nhấn mạnh trong hành động và lời nói.
Kỷ niệm về chiếc đồng hồ và tấm gương về lòng trung thành của người cha vẫn còn đậm nét trong lòng ông Thư. Dù đã qua đời, hình ảnh một người lính trung thành, tận tụy của thời kỳ kháng chiến vẫn luôn sống mãi trong ký ức của ông và những thế hệ sau.