KHÁM PHÁ HÀNH TRÌNH VƯƠN TẦM CỦA VIỆT NAM TRONG 80 NĂM ĐÁNG NHỚ VỪA CHIẾN ĐẤU VỪA XÂY DỰNG THÀNH CÔNG!

HÀNH TRÌNH HƠN 80 NĂM GỮI GÁI DÒNG CHẢY ĐƯỜNG BỘ, ĐƯỜNG SẮT TỪ NHỎ NIÊN ĐẾN CƠN GIAI ĐẠO

VÀO NGÀY 19.8, HƠN 220 KM TRÊN 7 DỰ ÁN THÀNH PHẦN CỦA DỰ ÁN CẢO TỐC BẮC – NAM PHÍA ĐÔNG GIAI ĐOẠN 2021 – 2025 ĐÃ ĐƯỢC HOÀN THÀNH, ĐẨY NỖ LỰC HOÀN THÀNH NỐI DẢI CAO TỐC 3.000 KM TỪ BẮC VÀO NAM CUỐI NĂM NAY.

VIỆT NAM – DÃI NON SÔNG, ĐƯỜNG ĐÔI NHIỀU NÀO ĐỂ ĐẾN ĐÂY
ẢNH: NAM LONG

Năm 2025 ghi nhận mốc lịch sử khi toàn tuyến cao tốc Bắc – Nam phía đông dài 3.000 km hoàn thành.
Từ những chuyến xe tải dài hàng trăm km/giờ, ít ai hình dung cách đây 80 năm, dải đất hình chữ S chỉ được nối bằng những con đường mòn, không hề có xe cộ đi lại. Phần lớn chỉ có người đi bộ hàng ngày, ngày qua ngày, tháng qua tháng.

TỪ GIẤC MƠ ĐƯỜNG RỘNG THÊNH THANG 8 THƯỚC…

TS Nguyễn Hữu Nguyên, hội viên Hội Quy hoạch phát triển đô thị Việt Nam, kể về những ngày hành quân gian khổ qua tuyến Trường Sơn năm 1966. Sau 21 năm kháng chiến chống Mỹ, đường sắt Bắc – Nam bị tê liệt, chỉ có thể đi được tàu từ Phú Thọ tới Thanh Hóa, còn lại phải đi bộ hàng trăm km. Khi đó, đường mòn chỉ là những con đường nhỏ, chưa được nối liền, chỉ có thể đi bộ.

Phương tiện nối miền Nam – miền Bắc đầu tiên ông chứng kiến là máy bay. Ngày 1.5.1975, đoàn xe jeep của trung đoàn vào tới sân bay Tân Sơn Nhất, cùng lúc chiếc máy bay IL-18 đáp xuống. Phi hành đoàn còn chưa có chỗ nghỉ, chỉ đứng gần máy bay. Chuyến bay giúp gửi thư về Hà Nội chỉ trong vòng 2 giờ.

Ông kể lại cảm xúc lúc đó: Trong túi còn không có nổi tờ giấy trắng, phải vội chạy lên nhà ga lấy tờ lịch cũ, viết vội dòng tin đã vào tới Sài Gòn, rồi gửi. Đến sáng hôm sau, cô gái trẻ tới gõ cửa gửi thư, như một minh chứng cho sự khác biệt giữa đi bộ hàng tháng, hàng năm mới tới, và đi bằng máy bay chỉ trong vài giờ. “Hai miền đất nước tưởng như chỉ cách nhau vài cây số”, ông xúc động nhớ lại.

Sau ngày thống nhất đất nước, tháng 9.1975, ông Nguyên cùng đoàn cán bộ đầu tiên trở ra Bắc. Thời đó, chưa có xe khách đường dài, mọi người lần theo đường mòn ven biển qua Vĩ tuyến 17. Đoàn phải ngồi trên chiếc xe đò nóng bức, chật chội, rồi chuyển sang xe bán tải, đường đất, nhỏ, xóc người. Phía hai bên là cảnh hoang tàn, nhà cửa vắng bóng, cây cối xòa vào xe, thỉnh thoảng cấn vào đầu, cổ người. Đến Vinh mới đi tàu hỏa về Gia Lâm, mất cả ngày lẫn đêm cho quãng đường 300 km.

“Từ hòa bình đến nay, ngành đường sắt đã phục hồi toàn bộ hệ thống tuyến, cầu cống. Chỉ hơn 1 năm sau, chuyến tàu Thống nhất xuất phát từ Gia Lâm, tới TP.HCM sau 5 ngày, tốc độ tàu chỉ 20-30 km/giờ, nhưng đã là ước mơ của nhiều người”, ông nhớ.

Dẫn lại câu thơ của Tố Hữu về “đường ta rộng thênh thang 8 thước”, ông Nguyên nhận định: đó là những con đường mòn ngày xưa, chỉ là mơ ước của thời chiến tranh. “Đường 8 thước đã là ước mơ rồi đấy”, ông nói.

Về vận chuyển hàng hóa, hình ảnh quen thuộc là những chàng trai Bắc đi tàu, đi bộ, mang theo chiếc ba lô rỗng lộn ngược, vượt hàng trăm km để bán hàng trong các chợ miền Nam. “Chỉ có kiểu chạy bằng cơm”, ông diễn đạt một cách hình ảnh.

Trong hành trình 80 năm giữ nước và dựng nước, kỹ sư Vũ Đức Thắng, chuyên gia quy hoạch cầu đường, chia sẻ rằng đất nước nghèo khó khiến việc đi lại vô cùng vất vả. Cứ 30 km lại có sông lớn, chia cắt nhiều đoạn, giao thông ngăn cách ngày đêm.

“Ngày ấy, người dân chủ yếu đi bộ. Người hành quân từ Bắc vào Nam mất tới hai tháng, đi 40 km/ngày trên đường đất, hoặc 20-25 km trên địa hình gập ghềnh. Đầu những năm sau chiến tranh, di chuyển từ Thanh Hóa tới Huế mất 2 ngày, thậm chí phải nhờ dân khiêng xe qua những bãi lầy. Đường biển sóng to, gió lớn, đi mất hàng tháng mới ra tới Bắc”, ông nhớ.

Sau chiến tranh, việc khắc phục hệ thống đường sá gặp nhiều khó khăn do thiếu kinh phí. Đường ổ trâu, cầu rệu rã, phải đi bộ hoặc đi chiếc xe chở hàng đơn sơ. Đến năm 1992, khi đất nước bắt đầu đổi mới, các dự án khôi phục hạ tầng mới được đẩy mạnh. Hàng loạt cầu phao, tàu phà bị xóa bỏ, cầu cống mới bắt đầu xây dựng, mở đường cho phương tiện ô tô về đến tận xã.

NHỮNG THÀNH TỰU VĨ ĐẠI

Việt Nam đã vượt qua nhiều thử thách để hoàn thiện hệ thống giao thông. Đặc biệt tại miền Bắc và Nam, cầu phao được thay thế bằng cầu cố định, đường bộ và đường sắt liên tục được nâng cấp.

Hệ thống đường sắt từ 72 giờ giảm dần xuống 30 giờ, còn đường bộ ngày càng mở rộng, rút ngắn thời gian di chuyển. Những thành tựu này là minh chứng rõ ràng cho nỗ lực của cả dân tộc trong quá trình phát triển hạ tầng.

TS Vũ Đức Thắng bình luận: hệ thống cao tốc không chỉ đơn thuần là chiều dài, mà còn là thành tựu kỹ thuật vượt bậc, thể hiện bước tiến nhảy vọt của đất nước trong khoa học công nghệ. Các dự án qua núi, qua sông, vượt đèo là điều chưa từng có trong lịch sử.

Ngành đường sắt, cùng với cao tốc, ngày càng phát triển, trở thành điểm nhấn du lịch, và dự kiến sẽ có tuyến đường sắt cao tốc nối hai miền chỉ trong 5-6 giờ. Giao thông hàng không ngày càng sôi động, chuyến bay Hà Nội – TP.HCM đều đặn đưa hàng vạn người qua lại mỗi giờ.

“Ngày nay, từ Hà Nội vào Sài Gòn chỉ trong một ngày, từ cà phê sáng Hà Nội đến cơm tấm trưa Sài Gòn là chuyện trong tầm tay. Đó là sự thật, không còn là giấc mơ nữa”, ông Thắng nói.

Với những tiến bộ của hạ tầng, mục tiêu của Việt Nam đến cuối năm nay là hoàn thành 3.000 km cao tốc, thu hẹp khoảng cách văn hóa, kinh tế giữa các miền.

Dưới góc nhìn của các kỹ sư, thành tựu này thể hiện sức mạnh kỹ thuật, ý chí và sự quyết tâm của toàn thể dân tộc trong việc chinh phục những đỉnh cao của mặt trận hạ tầng giao thông.

NHỮNG GIAN NAN ĐỔI THAY BẰNG TỰ HÀO

Trong dịp đọc bản tuyên ngôn độc lập, Bác Hồ từng nói: “Làm sao để 50 năm nữa, giao thông vận tải ta xây bằng 10 ngày nay”. Thực tế, chúng ta đã vượt xa kỳ vọng đó. Hành trình hơn 80 năm xây dựng và phát triển hệ thống giao thông đã là minh chứng cho sự tự hào của đất nước, là thành quả của sự nỗ lực không ngừng của toàn dân, dưới sự lãnh đạo của Đảng và Nhà nước.

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *